1. Những nhà truyền giáo – do thám
Khi các giáo sĩ đến truyền giáo ở những vùng đất xa xôi chưa được biết tới rõ ràng, thì y như rằng họ sẽ vẽ bản đồ về xứ sở ấy, sẽ ghi chép những thông tin họ biết về xứ sở ấy, bao gồm địa lý, kinh tế, văn hóa, nhân văn, phong tục, thể chế, triều cương, phòng thủ, binh bị, vân vân. Trong sách lịch sử của những nước phương Đông xã hội chủ nghĩa (ví dụ Trung Quốc, Việt Nam), những hành vi này thường bị gán cho cái nhãn là “do thám” để chuẩn bị cho những công cuộc xâm lược thực dân trong tương lai. Nhưng thực ra những thông tin ấy có mang tính “bí mật quốc gia” gì mà phải do thám nhỉ? Nếu ta đọc “Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài” của nhà truyền giáo – do thám Christoforo Borri, ta sẽ thấy là tất cả những thông tin mà tác giả nhắc đến đều được góp nhặt trong cuộc sống thường nhật của ông ở vùng đất này, qua những điều tai nghe mắt thấy, và những điều ông nghe, ông thấy, thì mọi người dân bình thường khác cũng đều nghe, đều thấy cả; nói tóm lại, những nhà truyền giáo – do thám này đơn thuần là tường thuật lại những điều mắt thấy tai nghe về phong tục, tập quán, văn hóa, sinh hoạt, thể chế, tổ chức xã hội, vân vân, ở những vùng đất xa lạ đối với người phương Tây, hơn là để tâm khám phá những bí mật quốc gia hay bí mật quân sự mang ý nghĩa đặc biệt chiến lược nào đó. Nếu bảo họ là do thám thì chắc chắn những du khách ngày nay hễ đến nước nào là cứ săm soi đủ mọi ngóc ngách đời sống, lại còn chụp ảnh quay phim làm “tài liệu gián điệp” đem về, cũng không thể nào thoát khỏi cái mũ đó…
Với một tâm nhìn bao quát hơn, ta phải thừa nhận rằng thực ra công việc này không phải chỉ những nhà truyền giáo mới làm, mà hầu hết những người trở về sau những chuyến phiêu du kỳ thú như vậy – do dù mục đích chính của chuyến đi là thám hiểm, truyền giáo, buôn bán, du lịch, hay gì khác – đều sẽ có hàng bao nhiêu thiên truyện để kể về những vùng đất mình đã đặt chân đến. Họ sẽ viết sách, sẽ vẽ minh họa, sẽ lập bản đồ, sẽ huyên thuyên (và có phần hơi “nổ”) về những điều kỳ lạ mắt thấy tai nghe, và nếu như có máy chụp ảnh hay quay phim thì chắc chắn là họ sẽ trưng ra không ít phim ảnh, y như những du khách thời nay vậy. Người xưa thậm chí còn có nhiều động lực hơn với việc này, bởi nói một cách công bằng thì vào mấy trăm năm trước, khi giao thông còn chưa phát triển, thì những thông tin địa lý mới mẻ do khách viễn du đem về càng quý giá và ấn tượng bội phần đối với kẻ ở nhà. Chúng ta không có mấy cơ sở để tin rằng khi chàng Gulliver mô tả tỉ mỉ cặn kẽ những vùng đất mà chàng từng lạc đến, tức là chàng đang âm mưu vận động các nhà tư bản Anh Cát Lợi tiến hành xâm chiếm Lilliput hoặc cướp bóc Blefuscu, hay có ý định kêu gọi những nông dân Ái Nhĩ Lan đến đánh đuổi loài Houyhnhnm cao quý để chiếm đất trồng khoai tây, đồng thời nô lệ hóa bầy Yahoos hạ đẳng để bắt chúng làm việc trong những đồn điền trồng bông. Những thông tin “tối mật” mà chàng “do thám” được ở những xứ sở này về bản chất hoàn toàn không có gì bí mật hơn so với những truyền kỳ ở những vùng đất xa xôi mà những khách lữ hành kể cho nhau nghe trên con đường hành hương đến Canterbury, so với câu chuyện mà người tù binh Kitô giáo kể lại cho hiệp sĩ Don Quixote nghe về hành trình lưu lạc của mình qua các xứ Hồi giáo, hay so với những chi tiết về xứ sở Cathay huyền bí ở phương Đông mà Marco Polo kể lại khi đang ở trong nhà tù xứ Genoa.
Hơn nữa, công việc tường thuật, ghi chép lại về những vùng đất mình đã đi qua cũng không chỉ có người phương Tây mới làm; bất kỳ nhà du hành nào cũng đều có khuynh hướng đó, bất kể đông tây, cứ đi qua đâu mới lạ là sẽ quay phim chụp ảnh, nếu không thì cũng ghi chép lại mới thôi. Nhà sư Huyền Trang từ Thiên Trúc trở về chẳng đã ghi chép lại rất kỹ tình hình – không chỉ tình hình tôn giáo, mà còn là văn hóa, phong tục, kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, ngoại giao – của các nước mình đi qua trong quyển “Đại Đường Tây Vực Ký” đó sao? Đạo sĩ Lý Chí Thường sau khi hộ tống sư phụ sang cõi tây yết kiến Thành Cát Tư Hãn chẳng cũng đã viết nên “Trường Xuân chân nhân tây du ký” đó sao? Rồi còn những sứ giả như Trương Khiên, Trịnh Hòa nữa, họ chẳng phải cũng là những người phương Đông đem về những thông tin quý giá và mới mẻ về những vùng đất xa xôi mà họ từng đi qua đó sao? Và nếu bản thân tôi có dịp du hành qua những thung lũng và đồi núi khô cằn của Tatooine hay chiêm ngưỡng những đỉnh núi trắng hùng vĩ và mặt nước tĩnh lặng mê hồn dưới bầu trời xanh ngắt của hành tinh Naboo, nơi mà không mấy người Trái Đất đã từng có dịp đặt chân đến, thì chắc chắn là tôi cũng không thể sử dụng đến hình chụp, tranh vẽ, và những áng văn miêu tả trác việt… để chia sẻ với người Trái Đất một phần nào những trải nghiệm tuyệt vời đó. Và cả bạn nữa, cả bạn, cả tôi, tất cả chúng ta đều cũng sẽ làm như thế thôi. Mà nếu đó đã là kuynh hướng mà mọi khách du lịch đều có, thì việc chụp cái mũ “do thám” lên trên đầu những nhà truyền giáo viết về những xứ sở xa xôi kia rõ ràng là không công bằng với họ.

(Vạn Quốc Toàn Đồ của Matteo Ricci, bằng chữ Hán)
2. Vấn đề trao đổi thông tin
Nhân nhắc đến những khách du lịch đến những chân trời xa lạ, những đoàn lữ hành băng qua những vùng đất mới mẻ, gặp những con người mà họ chưa từng thấy và có lẽ cũng chưa từng thấy họ, ta khó có thể hình dung cuộc tiếp xúc đó là trao đổi một chiều được. Gần như chắc chắn là kẻ lãng du kia sẽ hăm hở hỏi han người bản xứ, quan sát những phong tục địa phương, và tọc mạch khắp các hang cùng ngõ hẻm mà anh ta có cơ hội thăm thú; nhưng những người dân bản xứ e rằng cũng khó mà buông tha cho vị khách lạ đến từ một xứ sở xa xôi chưa từng nghe nhắc đến mà không ngắm nghía anh thật kỹ càng, sờ mó anh thật cẩn thận, và cật vấn anh một cách có phần thái quá về xứ sở quê hương mà từ đó anh ra đi: “Ngài từ đâu đến? Bồ Đào Nha à, xứ ấy có xa không? Đi biển những một năm cơ à? Đức hoàng thượng của các ngài vẫn an khang chứ? Ngài kể thêm cho chúng tôi nghe về xứ xở của ngài đi. Thứ này gọi là viễn vọng kính à? Thế những quả cầu với những vòng sắt và viên bi rắc rối kia dùng để làm gì?” Quả thật không phải ai cũng có cơ hội được đi chu du thiên hạ, nhưng óc tò mò và lòng khao khát biết đến những điều mới mẻ thì không phải của riêng ai, cả phương Đông lẫn phương Tây.
Tôi đưa ra ví dụ đó để chúng ta thấy rằng vấn đề trao đổi thông tin trong giao lưu văn hóa Đông – Tây, thông qua những nhà thám hiểm, những nhà truyền giáo, những khách thương buôn, những kẻ phiêu lưu, không phải là trao đổi một chiều mà là nhiều chiều, qua đó mọi phía đều trao đổi những thông tin mình biết để lấy những thông tin mới, và tất cả các bên đều thu được lợi ích về cho mình – lợi ích nhiều hay ít thì còn phải tùy thuộc việc họ ứng dụng những thông tin mới ra sao. Thật vậy, trong lịch sử giao lưu Đông-Tây, những nhà du hành phương Tây không những đem những thông tin mới mẻ từ phương Đông về cho xứ sở mình, nhưng còn đem những thông tin, kiến thức của phương Tây đến cho cư dân thế giới phương Đông mà họ ghé đến. Họ không những vẽ bản đồ của những xứ sở phương Đông đem về nước, mà còn dâng cho những triều đình phương Đông những bản đồ, địa đồ, địa cầu của phương Tây. Những kiến thức về địa lý, văn hóa, và kỹ thuật phương Tây đã được khá nhiều nhà truyền giáo phương Tây vận dụng để kết giao với các đế vương hay giai cấp trí thức phương Đông, mà trường hợp tiêu biểu có thể kể đến Lợi Mã Đậu, Nam Hoài Nhân, Thang Nhược Vọng ở triều đình Trung Hoa, vân vân. Như thế, không những công cuộc phát kiến địa lý của người phương Tây đem lại cho họ những thông tin mới mẻ từ phương Đông, mà cũng đem lại cả cho người phương Đông những thông tin mới mẻ từ phương Tây nữa: một ví dụ có thể làm nhiều người ngạc nhiên là việc người Trung Hoa vốn tiến bộ về nhiều lĩnh vực, nhưng chỉ biết rằng trái đất tròn từ thế kỷ 17, nhờ những kiến thức thiên văn và địa lý do người Tây (vốn biết điều đó từ thời thượng cổ) đem đến. Nhưng đồng thời lịch sử cũng có vô số ví dụ khác cho thấy rằng người phương Đông cũng không hề thua kém người phương Tây về tính tọc mạch và ham hiểu biết: Việc người An Nam chẳng bao lâu đã đúc thần công không kém người Bồ Đào Nha, việc người Nhật Bản áp dụng kỹ thuật chế súng hỏa mai một cách đại trà đến nỗi có nhiều súng hơn cả các nước phương Tây, việc những học giả Trung Hoa (như Từ Quang Khải) đã biết ứng dụng kiến thức khoa học phương Tây để phát triển công nông nghiệp xứ mình, việc những sứ thần và con tin Triều Tiên ở Trung Hoa (như thái tử Chiêu Hiển) đã tìm mọi cách đem về nước bản đồ, địa chí, và công trình khoa học của phương Tây, việc vương quốc Ayutthaya và nước Xiêm La kế tục đã không ngần ngại thiết lập quan hệ trực tiếp với các triều đình phương Tây, thậm chí gửi cả sứ thần đến Versailles, vân vân, những ví dụ đó cho thấy chỉ cần có cơ hội, người phương Đông cũng sẽ vô cùng hăm hở tìm hiểu về phương Tây cũng như người phương Tây tìm hiểu về họ.
3. Vấn đề chinh phục và thuộc địa hóa
Nhưng nói gì thì nói, cho dù những nhà thám hiểm quan tâm đến lợi ích thương mại hơn là chiến tranh cướp bóc, những nhà truyền giáo hăng hái chinh phục các linh hồn chứ không mơ chinh phục đất đai, thì những phát kiến (đối với người phương Tây) về địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội của các xứ sở phương Đông mà họ đem về cho thế giới của mình đã đóng vai trò là một tiền đề quan trọng bậc nhất và cốt lõi trong việc phương Tây chinh phục phương Đông về sau. Thử nghĩ xem, làm sao mà người Hòa Lan có thể đến chiếm cứ quần đảo Gia Vị nếu họ không biết nó nằm ở đâu trên thế giới, hay làm sao mà người Anh bỏ cửa sông Châu Giang để đánh đến Đại Cô nếu như họ không nắm vững địa lý và hiểu rõ nội tình chính trị Trung Hoa? Rõ ràng không thể phủ nhận rằng phát kiến địa lý dẫn đến giao thiệp thương mại giữa phương Đông và phương Tây, và sau đó thì những xung đột xảy ra giữa họ xem ra khó mà tránh khỏi.
Các nước phương Tây đã gây chiến và chinh phục các nước phương Đông, đó là một thực tiễn lịch sử. Nhưng với một góc nhìn lịch sử rộng lớn và đầy đủ hơn, ta cũng sẽ phải thấy ngay rằng các nước phương Tây còn gây chiến tranh chống lại nhau nhiều hơn nữa. Những cuộc chiến giữa một nước phương Tây này với một nước phương Tây kia, hay một quốc gia phương Tây bị một quốc gia phương Tây khác thôn tính, là những “chuyện thường ngày ở huyện” trong suốt lịch sử phân liệt của châu Âu, cả trước và sau khi đế quốc Tây La Mã diệt vong. Về mặt này người phương Đông cũng không khá hơn, bản thân lịch sử phương Đông thời cổ, trung và cận đại cũng bị bao phủ bởi những cuộc chiến tranh liên miên giữa vô số các quốc gia lớn có nhỏ có, giàu có nghèo có, mạnh có yếu có, không khi nào dứt. Với bản chất hiếu chiến từ cả hai phía như thế, thì việc người phương Đông và phương Tây hầu như không hề có những xung đột đáng kể trước khi những phát kiến địa lý diễn ra, đó có phải là một điều kỳ lạ hay không? Thật ra là không kỳ lạ chút nào. Câu trả lời có vẻ thật đơn giản, nhưng chính vì đơn giản mà nó không thể chính xác và dễ hiểu hơn được nữa: làm sao mà nước này có thể giao tranh với nước kia khi mà chúng ở quá xa nhau, ở ngoài tầm tiếp vận hậu cần cho quân đội? Hoặc tệ hơn nữa, làm sao mà nước này có thể giao chiến với nước kia khi mà thậm chí họ còn chẳng biết gì về nhau, hay thậm chí còn chẳng biết là đối phương có tồn tại hay không nữa?
Chúng ta hãy thử điểm qua một vài ví dụ trong lịch sử: Nếu như đế quốc La Mã và đế quốc Đại Hán không hề có chiến tranh với nhau, thì chẳng phải vì hai đế chế này yêu chuộng hòa bình hay tôn trọng lẫn nhau; nguyên nhân đơn giản là vì khoảng cách địa lý giữa họ quá xa xôi, phương tiện giao thông chưa phát triển đủ để phục vụ hậu cần, quan hệ trực tiếp hầu như không có, và thông tin về nhau còn quá mờ mịt và thiếu sót, nói tóm lại là những điều kiện văn hóa, địa lý, xã hội, kỹ thuật, vân vân, vào thời kỳ ấy chưa đủ để hai đế chế ở hai đầu Đảo Thế Giới có thể tiếp xúc và xung đột với nhau. Còn đối với những nước lân bang kề cận mà họ biết quá rõ, thì họ đều khó lòng bỏ qua: nhà Hán tỏ ra chẳng ngại ngần gì mà không nuốt chửng các bộ tộc Bách Việt cũng như các binh đoàn lê dương La Mã đã thôn tính xứ sở của người Gaul, và giao tranh giữa La Mã và Parthia cũng ác liệt chẳng kém các trận chiến Hán-Hung Nô dai dẳng. Hoặc nếu như vương quốc Castilla thiện chiến không chinh phạt Phi Luật Tân từ sớm, hẳn nhiên không phải là vì các vị vua Công giáo của xứ này kính sợ Chúa mà không dám động đến binh đao; đơn giản là vì khi ấy họ chẳng biết nó nằm ở đâu trên trái đất cả… Nhưng một khi người Tây Ban Nha đã đặt chân đến được Phi Luật Tân (và đặt tên cho nó theo tên thái tử nước mình), đồng thời kỹ thuật hàng hải phát triển đủ để họ tiếp vận cho quân đội ở những vùng đất xa xôi nhường ấy, thì họ tỏ ra cực kỳ hung hãn và tiến hành đô hộ một cách hăng hái chẳng kém gì khi xung trận chém giết người Moor. Và nếu như William Kẻ Chinh Phục đi chinh phục Anh quốc chứ không phải Ấn Độ, hay Louis Vua Mặt Trời muốn thôn tính xứ Nederland chứ không phải xứ Đông Dương, thì hẳn là chúng ta cũng đã rõ là không phải họ có lòng thương xót gì Ấn Độ hay Đông Dương cả… Nếu như – do một sự ngẫu nhiên nào đó của lịch sử địa lý – mà nước Đại Nam lại nằm ở hạ lưu sông Rhine chứ không phải là trên một bờ biển cách xa nước Pháp hàng vạn hải lý, thì có lẽ nó đã bị vua Louis lăm le thôn tính từ lâu rồi chứ chẳng cần phải chờ đến khi hoàng đế Napoleon III phái chiến hạm Catinat đến nã pháo vào cửa Đà Nẵng làm chi.
Cái quá trình những cộng đồng người từ chỗ hoàn toàn không biết gì đến sự hiện diện của nhau, tiến đến việc nghe được thông tin về nhau, rồi sau đó chính thức tiếp xúc với nhau, từ đó thiết lập quan hệ hoặc hữu nghị hợp tác hoặc xung đột tranh đấu, quá trình đó đã tồn tại trong suốt lịch sử loài homo sapiens sapiens, từ khi con người còn sống thành bầy đàn cho đến tận ngày nay. Không những nó chỉ tồn tại thôi, nó còn chi phối một cách bao trùm lên toàn bộ tiến trình lịch sử của con người nữa. Và chúng ta có lý do để tin tưởng rằng, nếu trong tương lai con người có khả năng du hành vào vũ trụ và tiếp xúc với nhiều nền văn minh khác, thì – tùy vào trình độ phát triển tương đối của những nền văn minh đó so với chúng ta – mối quan hệ mà chúng ta thiếp lập với họ cũng sẽ không có gì khác biệt về bản chất so với mối quan hệ giữa các nền văn minh của chúng ta với nhau hiện nay: đã quen biết nhau thì ắt phải có quan hệ, đã lập quan hệ ắt đi kèm với giao thương; mà giao thiệp với nhau thì dễ xảy ra xích mích bất đồng, làm ăn buôn bán thì không tránh khỏi những va chạm về lợi ích: chiến tranh Nha Phiến chẳng phải bắt đầu từ việc lợi ích kinh tế của thương nhân Anh buôn thuốc phiện bị ảnh hưởng do lệnh cấm thuốc phiện của chính quyền nước Thanh đó sao? Nếu như châu Âu và Trung Hoa không biết về nhau, nếu nước Anh Cát Lợi không giao thương buôn bán với nước Thanh, thì liệu có thể xảy ra những chuyện chuyện chinh chiến đó chăng? Rõ ràng là không. Vậy phải chăng Anh Cát Lợi và Trung Hoa tốt nhất là không cần biết đến nhau, không cần phải giao lưu quan hệ với nhau, mọi nước đều bế quan tỏa cảng, như thế sẽ tránh được họa chiến tranh? Dĩ nhiên cũng không nốt. Vấn đề phát triển giao lưu, mở rộng tầm nhìn luôn là một xu thế tất yếu, và phản ứng “bế quan tỏa cảng” một cách tiêu cực cũng chẳng thể giải quyết được vấn đề, bởi một khi bản thân mình vẫn còn yếu kém thì cho dù có đóng cửa bế quan thì kẻ mạnh hơn cũng sẽ đến tận ngõ mà phá cửa đi vào thôi.

(Hải chiến Đối Mã Đảo, tranh phù thế)
4. Thân phận nhược tiểu
Thật vậy, có một thực tế không thể không nhắc đến, đó là trong lĩnh vực chính trị – quân sự, không mấy ai lại muốn gây chiến với kẻ mạnh hơn cả – việc phải giao tranh với kẻ mạnh hơn mình, nếu bắt buộc phải thực hiện, thì chỉ là một công việc chẳng đặng đừng mà thôi. Mọi quốc gia có đều chỉ muốn tấn công kẻ (mà họ cho là) yếu hơn, và tìm cách tránh những cuộc chiến với kẻ mạnh hơn họ, với điển hình là nước An Nam thời Trung cổ mà chúng ta đã nắm quá rõ lịch sử: họ cúi đầu xưng thần trước Trung Hoa hùng mạnh, hòa hoãn với nước Xiêm La ngang cơ, đồng thời ức hiếp Chiêm Thành, Chân Lạp, Vạn Tượng yếu thế hơn. Điều này cũng không có gì đáng trách, bởi nó hoàn toàn phù hợp với suy nghĩ hợp lý của con người. Và nếu đã không trách cứ nước An Nam đã hành động một cách hợp lẽ, ta cũng không thể nào trách cứ các quốc gia phương Tây đã đem thuyền bè vượt hàng vạn dặm biển đi đánh những dân tộc yếu ớt ở những cõi bờ xa thẳm.
Ta nhận thấy những nước phương Tây đi đầu trong việc chinh phục thuộc địa đa phần không phải là những nước hùng mạnh; họ thường có vị trí địa lý ở nơi “chân trời góc biển” ngoài rìa châu Âu, và không có mấy cơ hội can dự đáng kể vào tình hình thuộc địa. Trong khi những quốc gia hùng mạnh ở giữa châu Âu như Pháp, Ba Lan, hay Áo thường nhắm đến những nước nhỏ quanh mình, tìm kiếm những lợi ích thiết thực và cụ thể hơn nằm trong tầm tay của họ, thì những nước nhỏ ngoài rìa như Anh, Hòa Lan, Bồ Đào Nha, do ít có cơ hội tranh hùng trong lục địa, sẽ dành nhiều tâm huyết hơn cho việc tìm kiếm và khai thác lợi nhuận từ bên kia các đại dương. (Mọi người có thể chỉ ra một ngoại lệ to đùng là nước Tây Ban Nha, với một hệ thống thuộc địa rộng lớn cả ở Tân Thế Giới lẫn ở phương Đông, và đồng thời cũng là quốc gia có ảnh hưởng chính trị hàng đầu ở châu Âu trong một thời gian không ngắn; nhưng xin đừng quên rằng chính lợi nhuận khổng lồ thu được từ việc khai thác những vùng thuộc địa xa xôi cũng như từ việc giao thương với các dân tộc xa lạ đã đã biến xứ sở Tây Ban Nha quê mùa trở thành một cường quốc ở lục địa, chứ không phải ngược lại). Việc lựa chọn giữa giao thương và chinh chiến, giữa chinh phạt nước này và tấn công nước kia, do dù ở phương Đông hay phương Tây, lục địa hay hải dương, đều dựa trên cơ sở cân nhắc lợi ích, và một người có lý trí chắc hẳn sẽ đi theo lựa chọn nào đem lại nhiều lợi ích và ít rủi ro nhất: tấn công một nước yếu hẳn nhiên là ít rủi ro hơn tấn công một nước mạnh, và chinh phục một xứ trù phú chắc chắn sẽ thu lợi nhiều hơn là chinh phục một xứ nghèo nàn. Và dựa trên cơ sở cân nhắc lợi ích đó, dĩ nhiên là những dân tộc yếu hèn ở phương Đông sống trên những mảnh đất trù phú đầy tài nguyên là những con mồi hấp dẫn của quá trình chinh phục và thuộc địa hóa – tự thân sự yếu hèn đã chẳng khác nào một lời mời gọi kẻ khác đến đè đầu cưỡi cổ mình rồi.
Như vậy, trong một thế giới mà việc mở rộng nhãn quan và quan hệ quốc tế là điều tất yếu, nếu một quốc gia muốn tránh khỏi số phận bị chèn ép, nô dịch, thì điều quan trọng cần phải làm không phải là bế quan tỏa cảng, hạn chế giao lưu, hay cấm đoán thương mại, mà chính là việc làm cho mình trở nên cường thịnh, khiến cho những quốc gia khác phải kiêng dè và – sau khi cân nhắc lợi hại đủ đường – chọn mối quan hệ giao thương hơn là giao chiến. Ví dụ điển hình là trường hợp của Nhật Bản: khi đề đốc Perry đem bốn chiếc “tàu ô” Mỹ vào đậu trong vịnh Edo năm 1853, làm áp lực buộc mạc phủ Nhật Bản phải mở cửa thông thương, người Nhật Bản đã ý thức ngay được thế yếu của mình, và quyết tâm tự cường để trở nên hùng mạnh. Xem ra họ học tập rất nhanh, bởi chỉ hơn hai mươi năm sau, Kuroda Kiyotaka đã có thể đem binh thuyền đến đổ bộ lên đảo Giang Hoa để buộc nước Triều Tiên mở cửa thông thương với Nhật Bản (điều ước Giang Hoa năm 1876). Người Xiêm, ở một chiều kích ít ấn tượng hơn, cũng đã bảo tồn được nền độc lập nhờ sự kết hợp giữa một chính sách tự cường hợp lý và một đường lối ngoại giao khéo léo với các cường quốc trên biển – nếu điểm lại lịch sử, chúng ta dễ dàng nhận thấy dường như sự mềm dẻo và khéo léo về ngoại giao là một truyền thống của dân tộc Xiêm La từ ngàn xưa. Ngược lại, những quốc gia không biết phấn đấu tự cường, thì dẫu có kiên gan chống cự cũng không có mấy tác dụng. “Thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh?” Hễ cứ gào to “Hy sinh!” là có thể đuổi được giặc một cách duy ý chí thế sao? So với người Nhật chỉ cần bóng bốn chiếc “tàu ô” trong vịnh Edo là đủ để họ thức tỉnh không cần một phát pháo nổ, thì người Nam ta kể cũng có phần hơi tội: pháo thuyền Tây Dương đã thị uy không ít lần để buộc nước Nam phải mở cửa thông thương, mỗi ngày một quyết liệt hơn: năm 1856 chiến hạm Catinat vào cửa Đà Nẵng; hai năm sau liên quân Pháp – Tây Ban Nha bắn phá thành trì trên bán đảo Sơn Trà; một năm sau nữa Genouilly đem thuyền vào cửa Cần Giờ và hạ luôn thành Gia Định. Đến nước ấy mà nước Nam vẫn còn chưa tỉnh mộng để tiếp nhận những điều kiện khiêm tốn mà người Pháp đòi hỏi. Để đến khi phó đô đốc Charner công phá Đại Đồn ở Kỳ Hòa thì việc mất đất dường như đã không còn phương vãn hồi nữa, và đến điều ước Patenôtre (hơn hai mươi năm sau) thì đến cả nền độc lập cũng đi tong… Trong hai mươi năm nước Nhật đã từ một nước yếu ở châu Á trở thành một cường quốc, khiến cho phương Tây phải kiêng nể và không còn dám áp bức họ nữa (tới cuối thế kỷ 19 thì bao nhiêu hiệp ước bất bình đẳng mà phương Tây ký với Nhật đều đã bị hủy bỏ cả rồi), còn nước Nam vẫn dậm chân tại chỗ như thế, thì có rơi vào vòng “bảo hộ” của người ta cũng phải trách mình trước tiên chứ không thể trách người được: “Dân mạnh tới một xứ yếu, thấy xứ nầy vua hèn dân ngu, nói phải chẳng nghe, dạy khôn không hiểu, thì họ không chiếm trị còn để làm gì? Thứ quốc gia dân tộc thế ấy chẳng mất vào tay kẻ mạnh nầy cũng mất vào tay kẻ mạnh khác; sự suy vong đó đáng kiếp cho cái xứ có vua hèn dân ngu và sự xâm lược cũng là cái quyền tự nhiên của giống mạnh.” (Đào Trinh Nhất)
5. Si vis pacem para bellum
Nếu kết tội những nhà thám hiểm, thương buôn và truyền giáo đem lại cho các dân tộc sự hiểu biết về nhau là đã dọn đường cho xâm lặng, thực dân, và đô hộ của những thế kỷ sau đó thì dường như quá vô lý, chẳng khác nào khuyên người tiền sử nên phế bỏ lửa vì lửa dễ gây ra cháy bỏng, hay không nên ghè đá thành dao vì có thể bị đứt tay. Thật vậy, lửa là một bước tiến lớn của văn minh nhưng cũng là nguồn gốc của nhiều tai ương khủng khiếp, còn dao đồng thời là một công cụ hữu ích bậc nhất trong những bàn tay khéo léo và là thảm họa trong tay những kẻ vụng về; nhưng đâu có thể vì thế mà đổ tội cho những tiến bộ đó được? Việc mở mang tri thức và giao lưu giữa các nền văn hóa cũng tương tự như thế, có cả hai mặt lợi hại tốt xấu, nhưng đằng nào thì tốt cũng hợn xấu, lợi cũng hơn hại, không lẽ nào mà cấm đoán cho được (dẫu muốn ngăn cản cũng vô phương), mà chỉ nên khuếch trương mặt tốt, hạn chế mặt xấu mà thôi. Chứ nếu phản đối những xu thế mở mang giao lưu ấy ( một phần do những nhà thám hiểm, thương buôn và truyền giáo đem lại), lấy lẽ rằng chúng mở đường cho kẻ mạnh hiếp kẻ yếu, phương Tây xâm lược phương Đông, vậy nói cho cùng, phải chăng phương Đông muốn dùng màn sương bí mật ngăn cách Đông-Tây để che chở mình khỏi những nhà thám hiểm, truyền giáo, và chinh phục từ phương Tây đến, và khi màn sương đó dần dần tan đi nhờ những phát kiến địa lý của người phương Tây, thì người phương Đông bắt đầu oán trách người phương Tây đã ấp ủ dã tâm xâm chiếm mình từ khi Marco Polo dấn những bước đầu tiên trên hành trình vạn dặm đến Khanbalik yết kiến Kublai Khan? Điều đó không thể không khiến tôi nghĩ đến những đứa trẻ còn ấu trĩ chưa trưởng thành, còn muốn được che chở bảo bọc trong lòng mẹ (và khi nằm trong đó vẫn có thể thoải mái khoác lác về vị trí “trung tâm” và văn minh “thượng đẳng” của mình) chứ không dám bước ra ngoài biển lớn cuộc đời – cho dù thực tâm tôi vẫn cho rằng các nền văn hóa phương Đông không đến nỗi tệ mạt ấu trĩ như thế.
Đối với những người lên án những phát kiến địa lý của nhân loại, nối kết nó với chiến tranh và đô hộ, thì phải chăng theo họ, mỗi quốc gia nên tự cung tự cấp, mỗi dân tộc nên hùng cứ một phương, không cần biết đến những nước, những dân tộc ở bên ngoài bờ cõi của mình, theo kiểu “núi sông bờ cõi đã chia, phong tục bắc nam cũng khác”, mình tự biết mình mà thôi? Khổ thay, một sự thật phũ phàng mà chính họ không nhận ra, đó là chính những người mang não trạng như thế mới thật sự khiến cho quốc gia của họ bị tấn công và đô hộ. Bởi chính họ và những người có não trạng như họ, chứ không phải ai khác, mới là những kẻ kìm hãm đất nước mình trong tình trạng trì trệ lạc hậu tương đối so với thế giới; mà như trên đã nói, việc bản thân hèn kém mới là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng bị nô dịch. Lịch sử chẳng đã chỉ ra trong muôn vàn trường hợp, rằng hễ bế quan tỏa cảng, bưng mắt bịt tai, không nghe không biết, thì ắt sẽ lạc hậu yếu kém đó sao? Dẫu ta có muốn nước khác không can thiệp đến ta đi nữa, nhưng những nước khác dễ đâu đã chịu? Mà nếu ta đã yếu kém lạc hậu, thì làm sao có thể ngăn cản nước khác can thiệp vào nước mình?
Khi đề cập đến những não trạng này của thế kỷ 19 còn sót lại đến nay, tôi không khỏi liên tưởng tới những kẻ cực đoan ăn sung mặc sướng cổ vũ cho cái gọi là “chủ nghĩa hòa bình” (pacifism, hòa bình thuyết, tôi không dùng từ “phản chiến” bởi nó không chính xác: phản chiến là phản đối một cuộc chiến cụ thể, còn hòa bình thuyết là phản đối mọi khuynh hướng bạo lực và vũ trang) trong thế kỷ 21 của chúng ta, những người làm suy yếu chính quốc gia đã nâng đỡ và hỗ trợ họ. Về mặt này, chủ nghĩa hòa bình cực đoan cũng tai hại không kém, bởi nó làm suy yếu cả cá nhân lẫn dân tộc, phế bỏ khả năng tự vệ của một cộng đồng người chống lại những áp bức từ bên ngoài, và như thế càng thúc đẩy những cộng đồng khác tấn công áp bức họ. Chủ nghĩa hòa bình cùng những chủ thuyết có dây mơ rễ má với nó luôn cố gắng tạo ra một ẢO TƯỞNG (thật sự là một ảo tưởng) rằng nếu như mọi dân tộc đều bãi bỏ binh bị, nấu chảy gươm đao rèn đúc lưỡi cày, mọi người đều tương thân tương ái chia cơm sẻ áo, thì có thể tạo ra một thế giới đại đồng tươi sáng, không còn người này bóc lột người kia, quốc gia này áp bức quốc gia khác. Nhưng thử hỏi, nếu như đã có sáu tỉ người trên thế giới này đồng lòng phế bỏ vũ khí để an hưởng thái bình (một chuyện hầu như không thể xảy ra nổi), nhưng còn lại một người, chỉ một người thôi, không chịu buông vũ khí mà lại dùng vũ khí đó tấn công áp bức sáu tỉ người kia, thì sáu tỉ người kia có thể lấy gì mà ngăn cản được y? Tôi không có ý cho rằng không nên tin tưởng vào cái thiện của con người. Nhưng tin tưởng vào cái thiện của một cá nhân thì còn có lý, vì xác suất trúng cũng là 50%, nghĩa là tương đối lớn; chứ còn đặt cược vào cái thiện của hết thảy sáu tỉ con người thì quả là cực kỳ mù quáng bởi xác suất đúng là cực nhỏ đến nỗi hầu như không tưởng. Không, hòa bình không thể có nếu ta cứ tin tưởng vào bản chất tốt đẹp của TẤT CẢ mọi người, và hy vọng rằng họ sẽ không làm điều xấu đối với những người khác. Hòa bình ổn định chỉ có thể có được khi mọi người đều có khả năng bảo vệ mình và quyền lợi chính đáng của mình, mà muốn có khả năng bảo vệ đó thì không thể không có vũ trang, không thể không tự cường. Có lẽ không có ví dụ minh họa nào rõ ràng cho bằng trường hợp của hai nước Thụy Sĩ và Bỉ trong lịch sử: với diện tích và dân số xấp xỉ nhau, nước Thụy Sĩ đã có thể bảo vệ nền trung lập vĩnh viễn hàng trăm năm của nước mình nhờ vào một thiết chế phòng thủ hùng mạnh – chính thực lực quân sự và tình trạng luôn sẵn sàng quyết chiến ấy khiến cho đến cả Đệ Tam Đế Chế bách chiến bách thắng cũng phải ngán ngẩm mà bỏ qua khúc xương khó nuốt; ngược lại, nền trung lập của nước Bỉ, vốn không đủ sức tự vệ, là hoàn toàn vô nghĩa và đã bị vi phạm liên tục đến độ rút cuộc phải bãi bỏ sau Đệ Nhị Thế Chiến. Tôi hoàn toàn đồng ý rằng ngoại giao thương thuyết vẫn có thể, và rất nên là con đường giải quyết các tranh chấp giữa các tập đoàn người, nhưng thử hỏi nếu mình không có thực lực thì ai buồn thương thuyết với mình làm gì?
Những con người phương Đông ở thế kỷ 19 không phải là không nhận thức được điểm “phú quốc cường binh” này. Trong những phong trào cải cách, canh tân để tự cường ở phương Đông cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, dù đi theo chiều hướng nào, thì vấn đề “cường binh” luôn là một vấn đề then chốt, mà sự cấp thiết phụ thuộc vào tình hình cụ thể của nước sở tại. Vấn đề sửa sang binh bị, canh tân quân đội đó là một trong bảy điểm lớn của của “Bách nhật duy tân” ở nước Thanh, được lặp đi lặp lại trong những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ và được cụ thể hóa một phần bởi những cải cách hải quân của Bùi Viện ở nước Nam, và hơn hết, được phát triển đến mức độ quá khích ở nước Nhật phong kiến và chuyển thành chủ nghĩa quân phiệt. Những cố gắng “cường binh” của những đầu óc tiến bộ đó ở cuối thế kỷ 19, dù thành công hay thất bại vì nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng quan niệm “cường binh” của họ chưa bao giờ là lỗi thời cả. Thế mà ngày nay, khi thế kỷ 21 đã khởi đầu, lại vẫn có những người lại cho việc tự cường là lạc hậu, cường binh là phản động, quả thật là không dễ giải thích…

(Pizarro bắt sống hoàng đế Inca ở Cajamarca)
6. Kết luận: Súng, vi trùng và thép
Trong bài viết ngắn này, tôi đã cố gắng giải thích rằng vấn đề phát kiến địa lý và trao đổi thông tin giữa các dân tộc cùng lắm chỉ có thể là một điều kiện, chứ tuyệt đối không phải là nguyên nhân đưa đến vấn đề thuộc địa và nô dịch ở phương Đông. Đồng ý rằng những tri thức về các quốc gia và xã hội phương Đông đã giúp cho người phương Tây hiểu phương Đông hơn, và từ đó có nhiều khả năng đánh bại người phương Đông hơn trong những tranh chấp thuộc địa và ảnh hưởng cuối thế kỷ 19. Nhưng như ở phần trên đã đề cập đến, phát kiến địa lý không những giúp cho phương Tây hiểu phương Đông hơn, mà cũng giúp cho phương Đông biết về phương Tây nhiều hơn. Nếu như quá trình trao đổi thông tin đã giúp cho phương Tây đánh giá đúng phương Đông, thì tại sao lại không giúp cho phương Đông đánh giá đúng phương Tây, để có thể tự cường hầu thoát khỏi nguy cơ bị tấn công, hoặc chí ít cũng có thể tự bảo vệ mình? Bảo người phương Đông kém cỏi là không đúng, vì như trên đã đề cập đến, người phương Đông cũng không kém người phương Tây về mặt học hỏi, và thực tế là những nhân vật lỗi lạc có cái nhìn hợp với thời cuộc đời nào cũng có. Điểm lại lịch sử Việt Nam, chúng ta cũng nhận thấy có không ít những nhân vật đã có cái nhìn đúng đắn về tương quan sức mạnh Đông – Tây, và mong muốn cải cách để tự cường dân tộc. Sự thất bại của mong muốn tự cường này chỉ có thể trách “cơ chế” (chú thích: đây là kẻ tội đồ muôn đời mà hiện nay Đảng ta cũng đang sử dụng để chối tội, cho dù hoàn toàn không có ý định cải tạo nó) xã hội phương Đông đó đã không thể thích nghi, cho dù những cá nhân tài giỏi có mong muốn cải cách để tự cường thì không thiếu. Dầu sao đi nữa, trong lịch sử đã có bao nhiêu dân tộc hùng cường rồi suy tàn, phát khởi rồi diệt vong? Việc hưng vong của các dân tộc, thịnh suy của các quốc gia chẳng khác nào phù vân thoảng qua trong đáy mắt mà thôi…
Thật ra mọi suy luận và diễn giải về lịch sử đã qua, dựa trên yếu tố con người, đều thường không thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn theo kiểu con gà và quả trứng. Luôn có một câu hỏi lớn hơn, bao trùm hơn đằng sau mỗi câu trả lời, và càng hỏi, càng trả lời, càng dấn sâu, càng đi xa thì cảm giác mênh mông rộng lớn khôn cùng của thế giới và tri thức lại càng đáng sợ. Dựa trên cùng một nền tảng lý luận ở trên, chắc chắn sẽ nảy ra những câu hỏi rộng hơn, xa hơn: Thế thì tại sao phương Tây lại đến phương Đông – để buôn bán, và sau đó là để xâm chiếm – mà không phải là ngược lại? Tại sao các “châu ấn thuyền” của Nhật Bản không dong buồm thẳng đến Cadiz để trực tiếp trao đổi sản vật phương Đông lấy bạc Tây Ban Nha như là họ đã làm ở Nam Dương? Tại sao các “dương châu” vĩ đại của Trung Hoa lại không đến tấn công các bờ biển trù phú của xứ Hòa Lan như là họ đã từng dương uy ở Ceylon? Rõ ràng là các thủy thủ Trung Hoa và Nhật Bản có khả năng vượt biển không hề thua kém người Tây phương, và nếu họ đã đến được tận Madagascar thì việc đến tận châu Âu không có gì là bất khả. Phải chăng bản tính người phương Đông, được đạo thánh hiền giáo dưỡng nên yêu hòa bình, không tham lam và hiếu chiến bằng lũ sói biển phương Tây? Điều này rõ ràng là không đúng, như đã phân tích ở phần trên, người phương Đông cũng không kém người phương Tây về mặt hiếu chiến… Vậy thì điều gì đã ngăn cản những châu ấn thuyền đến buôn bán ở phương Tây và những dương châu đến tấn công châu Âu? Về vấn đề này, thật ra Jared Diamond, trong quyển “Súng, vi trùng và thép”, đã cung cấp một câu trả lời tương đối rốt ráo theo kiểu lần đến tận đầu mối vấn đề mà tôi hầu như bị thuyết phục (cho dù không phải hoàn toàn). Nhưng xin hãy để dành vấn đề này cho một dịp khác vậy.
2008/08