My personal coat-of-arm


Well well well I was not born from royal blood, nor I was descended from noble lineage, so what can a coat-of-arm be used for? It is a terrible myth, and yet has not been demythed, that many people assume heraldry to be connected with nobility. It was not true at all, as coat-of-arms for commoners, for example burghers, artisans, and even farmers, were widely practiced in Continental Europe through the Medieval period, so heraldry obviously is not restricted in noble classes, except when the regimes said otherwise (only in England and Portugal did we find such restrictions at some historical periods).


As John Locke hailed the rights of life, liberty and property, I also believe that the right to bear a coat-of-arm is also included in such fundamental human rights. Moreover, while the current oppressing regime of Vietnam prohibits the civilians to bear arms (so that they can not revolt to overthrow the tyrants), there’s no legislation to ban them from bearing coat-of-arms.


THE BLAZON OF THIS COAT-OF-ARM:
Quarterly:
- First: or three scallops gules, a label of three points azure;
- Second: gules a cross or fimbriated argent;
- Third: gules a lion rampant or;
- Fourth: azure bordure or, a sun and a moon argent.

This coat-of-arm is to represent myself, from my origin and background to my personalities and charecteristics, as well as my ideal and beliefs. It was the result of a lot of sketching and condensing of ideas. I had begun to work on it since the early months of this year, although scattered ideas, like the lion, the cross, the sun and the moon, had appeared much earlier. This could well be defined as a “canting arm” as it represents not only my lineage and profession, but also my name.

The first quarter represents my family, in which the label of three points show my cadency (eldest son). The second quarter is the combination of the design representing my religion (Christianity) and the colours representing my nation (Vietnamese). The third quarter’s charge is a lion rampant, which is not only my zodiac constellation, but also a symbol of my personalities, which – no one surprises – suits my zodiac sign very well. The fourth quarter is a pun on my name, using elemental ideograms of the Chinese equivalence of my middle name.

Anyone want to have a personal coat-of-arm? Anyone want to create one for his/her family? Please contact me directly and we can have a discussion on it. Free of charge for Vietnamese (in order to promote the culture of heraldry in this Eastasian country).

Rừng vàng biển bạc máu đào

Bạn thích cô gái hay lá cờ?
(Nguồn flickr.com, uploaded by seanfderry-studenna)


1. Mô tả

Tôi vẽ lá cờ này cũng lâu rồi, có lẽ đã ba năm trước hoặc hơn, khi đó thật ra quan điểm chính trị ngoại trừ hai chữ “phản động” ra thì cũng chưa có gì rõ ràng cả. Nghĩ lại cũng buồn cười, nguồn cảm hứng đầu tiên tạo thành dòng cảm hứng dẫn đến tác phẩm này lại là lá cờ “Cầu vồng” của dân đồng tính (dù sao đó là một lá cờ đẹp). Tất nhiên một dòng sông thường phải khúc khuỷu uốn lượn chứ chẳng mấy khi đâm thẳng ra biển cả… Tôi tạm đặt tên lá cờ này là “rừng vàng biển bạc máu đào”, dựa trên ba màu của lá cờ vậy thôi.

Thiết kế nói chung đơn giản và cổ điển: một lá cờ tam tài dọc, gồm ba sọc vàng (phía cán) – trắng – đỏ đều nhau. Tỉ lệ lá cờ là 1:2, tức chiều dài gấp đôi chiều rộng. Thiết kế tam tài đem đến sự uy nghiêm, còn kết hợp màu sắc tạo một ấn tượng độc đáo, (xem phần 3), vừa mới mẻ (do sự kết hợp) vừa quen thuộc (của những màu sắc cũ mà người Việt Nam đã quá quen).

Cấp độ màu sắc (RGB): Vàng: #FCD116 – Trắng: #FFFFFF – Đỏ: #CE1126

2. Ý nghĩaÝ nghĩa nguyên thủy của tôi khi vẽ lá cờ này vài năm trước chỉ tóm gọn trong hai từ “cộng hòa” và “dân tộc” mà thôi.

Lá cờ tam tài dọc nổi tiếng nhất là lá cờ tam tài đỏ-trắng-xanh của cách mạng Pháp và cộng hòa Pháp, và đã trở thành tượng trưng cho tinh thần cách mạng và tự do – bình đẳng – bác ái. Thiết kế hình tam tài cũng được sử dụng nhằm thể hiện ý nghĩa “cộng hòa” đó. Tam tài Ireland cũng chịu ảnh hưởng từ tam tài Pháp, tuy nhiên trong lá cờ này tôi sử dụng tỉ lệ 1:2 của cờ Ireland chứ không sử dụng tỉ lệ của cờ Pháp cũng là có nguyên nhân: nước Ireland đã chịu chia rẽ từ quá lâu, và đại đa số nhân dân trên hòn đảo ngọc bích này vẫn mong mỏi thống nhất và hòa hợp dân tộc, mà lá cờ tam tài phần nào thể hiện ý nghĩa hòa hợp đó. Tôi cũng muốn gửi gắm vào trong tỉ lệ lá cờ ý tưởng nền cộng hòa kết hợp với chủ nghĩa quốc gia, nên đã dùng tỉ lệ 1:2, chỉ đổi màu lục và cam thành vàng và đỏ, những màu sắc truyền thống của Việt Nam. Thật may là tổ hợp màu này lại rất “độc”, hoàn toàn không đụng hàng…

Nhưng từ kinh nghiệm nghiên cứu về vexillology lẫn vexillography, tôi đã rút ra kết luận rằng: ngoại trừ trường hợp có liên quan đến các luật heraldry, còn trong thời hiện đại, thường thì không phải người ta vẽ một lá cờ để thể hiện một tập hợp ý nghĩa nào đó, mà là ngược lại, người ta vẽ lá cờ trước rồi mới gán những ý nghĩa mình muốn cho nó, điều này trong một chừng mực nào đó lại khả thi hơn, nhờ vào tính đa nghĩa phong phú của màu sắc và biểu tượng. Với cùng một tập hợp biểu tượng và màu sắc người ta có thể bói ra không ít ý nghĩa, mà sự phong phú của chúng chỉ bị giới hạn bởi khả năng liên tưởng của con người mà thôi.

Một số tập ý nghĩa của lá cờ “rừng vàng biển bạc máu đào” này:

- Như tên lá cờ, vàng tượng trưng cho rừng, trắng tượng trưng cho biển. Tập hợp ý nghĩa này có thể nói chưa từng gặp trong kỳ hiệu học (nơi rừng được thể hiện bằng màu lục, còn biển là màu lam), nhưng nó rút lại được ra từ câu nói cửa miệng của mọi người “Việt Nam rừng vàng biển bạc” đấy thôi… Còn đỏ, tất nhiên là dòng máu chảy trong huyết quản của dân tộc đang sống trên mảnh đất “rừng vàng biển bạc” đó rồi, cái dòng máu đã từng bao nhiêu lần đổ ra để bảo vệ cái “rừng vàng biển bạc” đó…

- Ngoài ra, màu vàng còn tượng trưng cho lãnh thổ (màu của đất) còn đỏ tượng trưng cho con người (màu của máu), đây là hai thành tố trong định nghĩa về quốc gia “một khối người sống trên một lãnh thổ”. Theo nghĩa này, màu trắng được hiểu là đại diện cho chính quyền của quốc gia (chẳng phải ngẫu nhiên mà bọn Bạch vệ lại được gọi là… Bạch vệ).

- Đối với những người còn nặng trĩu ưu tư về sự chia rẽ dân tộc: vàng tượng trưng cho Quốc gia, đỏ tượng trưng cho Cộng sản, còn trắng thể hiện sự hòa giải và hòa hợp giữa hai phe Quốc Cộng. Cách hiểu này tương tự với trường hợp quốc kỳ Ireland.

- Ý nghĩa theo kiểu “Phi châu” (ai nghiên cứu các quốc kỳ Phi châu hẳn sẽ hiểu sự mỉa mai này): đỏ tượng trưng cho sự thống nhất, trắng là biểu tượng của hòa bình, vàng nhằm thể hiện sự thịnh vượng. Màu vàng được đặt ở sát cán cờ (vị trí quan trọng hơn), thể hiện đây là mục đích tối hậu mà thống nhất và hòa bình phải đem lại.

- Dành cho những người vừa yêu nước vừa yêu vào chủ nghĩa xã hội: Vàng thể hiện cho dân tộc, đỏ tượng trưng cho cách mạng. Trắng đặt giữa tượng trưng cho một xã hội xã hội chủ nghĩa mang màu sắc dân tộc, đặt nền tảng trên dân tộc, đồng thời kết giao làm bạn với tất cả các nước, vân vân… Mà thật ra “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc dân tộc” là cái gì nếu không phải là National Socialism (quốc xã) nhỉ? Vậy những người quốc xã cũng có thể bám vào tổ hợp ý nghĩa này cũng không ngại gì.

- Còn những người vừa yêu văn hóa bản địa vừa sùng bái văn minh Trung Hoa (như tôi chẳng hạn) cũng có thể xem màu vàng là tượng trưng cho văn hóa bản địa, màu trắng tượng trưng cho văn minh Tây phương (của lũ quỷ trắng), màu đỏ là màu sắc truyền thống của Trung Hoa (mà ta cũng bị ảnh hưởng), tất cả đều hòa quyện thành văn hóa dân tộc hiện đại… Việt Nam thật là cái nồi hầm văn hóa (đây là một lời khen đấy nhé).

- Vân vân và vân vân, tùy theo kiến thức và sự liên tưởng phong phú của bạn.

Nhưng nói gì thì nói, dù sử dụng tổ hợp ý nghĩa nào đi nữa, thì hay ý nghĩa cốt lõi của lá cờ này, “cộng hòa” và “dân tộc”, vẫn không thay đổi. Hy vọng là ở nước ta hiện không còn nhiều người theo chủ nghĩa bảo hoàng hay chủ nghĩa quốc tế…

3. Hạn chế

Hai màu vàng và trắng bên cạnh nhau vi phạm khoản “metal on metal” cực kỳ quan trọng trong heraldry (và chính nhờ sự vi phạm này nên mẫu cờ mới trở nên “không đụng hàng”). Cách khắc phục là sử dụng một màu vàng đậm hơn một chút so với màu vàng truyền thống, đó là lý do vì sao tôi chọn màu #FCD116.

Tỷ lệ 1:2 cũng có thể là một vấn đề, nhưng không đáng kể: lá cờ “Long tinh” đầu tiên tương truyền do cụ Phan Thanh Giản sử dụng rồi triều đình chuẩn hóa lại, cũng dùng tỷ lệ này, và thế là tình cờ chúng ta đã đi theo truyền thống cha ông mà không biết :D

Hãy thờ rùa!

Dạo trước được thư thả một chút, có người bạn bảo tôi đọc một entry mang tên “Hãy là con sư tử mang chính khí Việt” trong blog của bạn Nhi. Tôi đã xem, entry này ý tứ rất nhiều, dường như lời không chứa nổi ý, khác hẳn với lối viết cà kê của tôi, và tác giả đúng là có khẩu khí của sư tử (Hà Đông hay Sơn Tây thì tôi không rõ, đằng nào cả hai cũng đều đã sáp nhập vào Hà Nội rồi, nên đây không còn là vấn đề lớn nữa). Sau khi lược đi những tình cảm nồng nàn và mãnh liệt dành cho tổ quốc chứa chan trong entry, thì ta có thể tóm tắt nội dung của nó đại khái như thế này:

a. Cái thiện là thế lực mạnh nhất trong vũ trụ (có lẽ là chính cái được Obi-Wan Kenobi gọi là The Force). Không lương thiện không thể hùng cường (nước An Nam là một ví dụ điển hình). Muốn hùng cường phải có chính quyền hướng thiện, kick arse mấy đứa gian tà đang làm thủ tướng bí thư gì đó. Phải chính trực thẳng thắn, không thể mãi khom lưng rụt cổ (vd: nhận tiền viện trợ, quỵ lụy thiên triều, cắt đất nhường biển).

b. Muốn làm được vậy, người An Nam cũng phải hướng thiện, phải đặt quyền lợi đất nước lên trên quyền lợi bản thân, tức là yêu nước hơn yêu bản thân. Yêu nước là bổn phận của mỗi người. Yêu nước đòi hỏi phải dũng cảm. Lòng yêu nước chân chính chiến thắng nỗi sợ hãi (giống các bác Công giáo ở Thái Hà). Ai còn sợ sệt chứng tỏ là còn yêu bản thân hơn yêu nước.

c. Kết luận: Nước muốn mạnh phải theo đuổi cái thiện. Vậy yêu nước là phải ủng hộ cái thiện. Yêu nước là dũng cảm, và dũng cảm chính là thiện.

Không biết tôi có hiểu sai điểm nào không nữa? Nhưng nói tóm lại thì tất cả những nội dung này đều xoay quanh hình tượng sư tử hào hùng, biểu tượng của hai đức tính tiêu biểu được đề cao trong entry, đó là chính trực và dũng cảm; nói tóm lại, người viết cổ vũ cho việc dân tộc và con người An Nam thăng hoa trở thành sư tử, mang lấy những phẩm chất của sư tử, góp phần làm đất nước hưng thịnh hùng cường. Nhiệt tâm và khí phách của cô gái này thật là đáng cho người ta để ý; có điều về mặt khuyên người An Nam trở thành sư tử, tôi không thể đồng ý với cô.

(cờ đỏ rùa vàng)

1. Sư tử là một biểu tượng tích cực

Tôi không cho rằng người An Nam nên trở thành sư tử, không phải vì tôi không ưa loài đó. Tôi cũng hoàn toàn không ghét sư tử, ngược lại, đó là loài vật tôi yêu thích. Tôi sinh nhằm cung Sư Tử và vẫn dùng hình ảnh vị chúa tể sơn lâm trên huy hiệu. Là một người thuộc phái Gryffindor, yêu thích màu đỏ và vàng, cá nhân tôi cũng trân trọng và theo đuổi những đức tính cao quý mà sư tử (ít nhất là sư tử trong biểu tượng học chứ không phải là những chú sư tử lười nhác đang nằm ườn cho vợ nuôi ở Phi Châu) đại diện, như dũng cảm, can đảm, mạnh mẽ, chính trực, uy quyền, vân vân. Richard Tim Sư Tử cũng là nhân vật truyền kỳ lịch sử thời Thập Tự Chinh mà tôi đặc biệt ngưỡng mộ – đặc biệt từ khi đọc Ivanhoe.

Nhưng sở thích cá nhân và căn tính dân tộc là hai chuyện không thể nhập nhằng, tôi không thể vì yêu thích sư tử mà bắt cả bầy lừa  trở thành sư tử được. Bởi vì thế nên việc so sánh dân tộc ta với loài sư tử, hoặc là cổ vũ dân tộc ta trở thành sư tử, không thể không khiến cho tôi cảm thấy kỳ quái. Lý do tôi cho rằng chúng ta không nên là sư tử, không phải vì sư tử có một khiếm khuyết nào, hay vì có một loài khác cao quý hơn sư tử. Lý do đơn giản, chúng ta không nên là sư tử, chỉ bởi vì chúng ta không phải là sư tử.

2. Chúng ta không phải là sư tử

Chúng ta không phải là sư tử. Bởi thế, chúng ta cũng không nên là sư tử. Sư tử mạnh mẽ thật, điển trai thật, bờm đẹp thật, đắt đào thật, đồng thời cũng tượng trưng cho rất nhiều phẩm chất cao quý đáng ngưỡng mộ, nhưng chung cuộc đó vẫn không phải là căn tính của chúng ta. Trở thành sư tử, chúng ta có thể gầm vang một tiếng nhưng rồi sẽ thế nào? Tinh thần của sư tử thật chúng ta vốn không có, vậy thì liệu chúng ta có đủ sức để chi trì mãi cái bộ da sư tử hay không? Nếu không, sau khi bộ da ấy rớt đi, hậu quả sẽ thê thảm ra sao?

Nếu chúng ta không phải là sư tử, thì chúng ta là gì? Linh vật nào biểu tượng cho căn tính của dân tộc chúng ta? Loài rồng thường được xem là ứng cử viên sáng giá đầu tiên: “con rồng cháu tiên” kia mà! Nhưng ngoại trừ huyền thoại khai sinh dân tộc từ thời hồng hoang đó ra, thì có lẽ chẳng còn điểm chung nào khác giữa một loài vật huyễn hoặc với một dân tộc thực tế sống động. Ngoài ra, có nhiều tên phản động đặc biệt ở www.x-cafevn.org vẫn khẳng định linh vật của dân ta (mà chúng gọi một cách đầy khiếm nhã và thi vị là dân xứ Lừa) chính là con lừa; nhưng tôi thấy con lừa ưa nặng tuy có phần nào phản ánh đặc điểm tâm sinh lý của dân tộc, nhưng chưa thể diễn tả được trọn vẹn tinh thần cao siêu thượng đẳng của nó.

Theo quan điểm của tôi, linh vật của chúng ta chính là rùa. Chỉ có loài rùa linh thiêng, một trong tứ linh của văn hóa phương đông (cũng xin lưu ý rằng trong tứ linh chỉ riêng rùa là có thật, ba loài kia đều là huyền thoại), mới có thể là biểu tượng đầy đủ nhất của dân tộc “mấy nghìn năm văn hiến” này, khác xa với lừa thường mang hàm ý miệt thị khinh bỉ. Đặc biệt, khác với lừa là loài vật ngoại lai, hầu như chưa từng cư trú trên mảnh đất Đông Dương (xin hỏi thật, đã có ai trong số các bạn nhìn thấy một con lừa ở An Nam chưa?), thì mối quan hệ giữa rùa và lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta vô cùng mật thiết và gắn bó hơn nhiều người có thể hình dung. Lịch sử nước Đại Rùa ta, suốt bốn nghìn năm lập nước, dựng nước và giữa nước, luôn phát huy tinh thần của loài rùa, chậm mà chắc, lạc hậu mà vững vàng. Con rùa biết rụt đầu trước hiểm nguy, nhưng cũng biết thò đầu đút chân ra đi tiếp khi tình thế trở nên tốt đẹp hơn. Có những người mở miệng ra là chê bai dân ta nước ta chậm chạp, lạc hậu, nhưng những người ấy hẳn cũng đã nghe truyện ngụ ngôn nổi tiếng “Rùa và Thỏ” rồi chứ?

Tất nhiên mối quan hệ giữa rùa và dân tộc không chỉ có thế. Rùa đã được nhắc đến với mối liên kết với dân tộc ta ngay từ thời tiền sử rồi: sử cũ còn ghi lại chuyện họ Việt Thường đem rùa thần tặng cho vua Nghiêu, trên mai rùa có văn tự viết bằng chữ khoa đẩu – dụ ngôn đó có thể khái quát rằng rùa chính là nguồn gốc của nền văn minh thời cổ, và cũng giải thích vì sao một số lượng lớn chữ giáp cốt lại được viết trên mai rùa. Đến thời hữu sử, chính thần Rùa Vàng (còn gọi là thần Kim Quy) đã giúp cho dân ta xây thành Cổ Loa sau nhiều lần bị rút ruột vẫn đứng vững trước bao cuộc công phá. Rùa cũng ban cho dân ta chiếc lẫy nỏ chính hãng để giết giặc ngoại xâm. Thử hỏi nếu Thục Phán không vọng ngoại mất gốc, mà biết gìn giữ và phát huy truyền thống rùa vàng, thì nước Âu Lạc làm sao có thể bị họ Triệu chinh phục dễ dàng đến thế? Đến kỷ nguyên Thăng Long – Đại Việt, vai trò truyền thống của rùa không những không bị lu mờ, mà còn thể hiện ở tầm vóc quy mô hơn: thời bình thì rùa đội bia tiến sĩ trong văn miếu, đề cao nhân tài, coi trọng học vấn, chủ trương khai sáng; thời loạn thì rùa ban gươm báu cho kẻ hào kiệt để đánh giặc an dân, giữ gìn bờ cõi. Thật là văn võ đều vẹn toàn cả! Như thế đủ thấy rùa đã gắn bó với lịch sử nước ta nhường ấy, chính là căn tính của ta, là hồn nước của ta. Còn con sư tử hùng dũng mạnh mẽ kia, nó ở đâu, đã từng tồn tại trên mảnh đất chữ S này chưa?

Cũng như sư tử, rùa là biểu tượng truyền thống của sức mạnh. Nhưng sức mạnh của rùa khác hẳn với sức mạnh của sư tử: nó không bộc phát, không dữ dội nhất thời, mà âm ỉ lâu dài, nhiều khi không dễ nhận thấy. Vì lẽ đó, rùa còn là biểu tượng của sự trường thọ, về sức tồn tại dai dẳng qua nhiều nghịch cảnh. Sức mạnh của rùa cũng chỉ được thể hiện khi có nhu cầu tự vệ trước hiểm nguy, thể hiện bản chất hiếu hòa cầu an của rùa, khác tới tính cách hùng dũng hiếu chiến nổi tiếng của sư tử. Và cũng đừng đánh đồng sự cầu an đó với sự khiếp nhược: bắt rùa rụt cổ vào thì không khó, nhưng đập vỡ mai rùa thì chẳng dễ chút nào… Với chiếc mai vững chắc không suy suyển, rùa cũng là một biểu tượng của sự ngay thẳng chính trực như sư tử vậy – chẳng phải ngẫu nhiên mà Leo, Mike, Don, Raph lại là rùa… Bên cạnh những ý nghĩa tốt đẹp mang tính truyền thống đó, trong xã hội hiện đại, rùa còn mang thêm ý nghĩa của may mắn, phát đạt, thành công: hễ ai được việc một cách mau mắn dễ dàng không phải cố gắng nhiều, thì thường được khen là “quá rùa!”

Muốn so sánh giữa rùa và sư tử, có lẽ không cần tốn nhiều giấy mực đến thế, mà chỉ cần so sánh tình trạng hiện tại của hai loài này là đủ thấy loài nào ưu việt hơn, có sức tồn tại bền bỉ hơn: Loài sư tử hiện nay chỉ co cụm ở một khu vực hạn chế miền đông nam Phi Châu, cộng thêm vài trăm sư tử châu Á sống lay lắt ở một cánh rừng nhỏ tại Ấn Độ; trong khi loài rùa thì hiện diện khắp năm châu bốn biển (ngoại trừ Bắc Băng Dương), không ở đâu lại không có rùa. Một con rùa có thể thua một con sư tử, nhưng loài rùa thì mạnh mẽ vượt xa loài sư tử. Loài sư tử có thể đứng trước nguy cơ bị đe dọa, nhưng loài rùa thì không bao giờ và cũng chưa bao giờ. Sự trường tồn của loài rùa đủ làm minh chứng cho sự ưu ưu việt việt của dân tộc mang hồn rùa này.

3. Hãy là chính mình

Không thể phủ nhận, được trở thành sư tử biểu tượng cho chính khí quả thật là một viễn tượng đầy hấp dẫn, với hình ảnh của chúa tể sơn lâm hùng dũng với bờm đẹp và tiếng gầm vang dội, và do đó có sức cám dỗ mạnh mẽ đối với những tâm tính yếu hèn tự ti. Vâng, tôi xin khẳng định, đó chính là biểu hiện của sự tự ti mang tính dân tộc. Thử nghĩ xem, làm rùa có gì là dở, là không hay, trong khi như trên đã chỉ ra, rùa có những ưu điểm vượt trội sư tử? Hơn nữa, một dân tộc bản chất là rùa mà lại muốn hóa thành sư tử thì hậu quả sẽ thế nào đây? Đã bao lâu nay chúng ta mang trong mình hồn thiêng của loài rùa, nhưng lại chạy theo bóng hình của mãnh sư phương bắc, chúng ta là rùa mà lại học theo phong cách của sư tử, từ Khổng giáo, phong kiến cho đến cộng sản, tất cả đều được du nhập từ phương bắc cả. Hậu quả là chúng ta vô cùng thê thảm, không thể thành sư tử mà cũng chẳng ra rùa. Còn dân tộc nào bất hạnh hơn, vong bản hơn dân tộc Đại Rùa này?

Lịch sử nghìn năm giữ nước của dân tộc đã chỉ rõ, những khi nào dân tộc giữ vững bản sắc rùa, dám can đảm co đầu rụt cổ thần phục bá quyền phương bắc, như Mạc Thái Tổ đã có gan cởi trần tự trói lên quan ải, khi ấy đất nước mới có thể bền vững, nhân dân mới có thể được bình an, quốc gia mới có thể tồn tại qua hiểm nguy. Ngược lại, nếu vứt bỏ bản sắc rùa, đề cao ý chỉ hùng cường tráng liệt như sư tử, thì hầu như chắc chắn sẽ nước mất nhà tan, trăm họ điêu linh khốn khổ như họ Hồ (Hồ nào cũng là Hồ), với tham vọng “có trăm vạn quân để đánh giặc Bắc”, cuối cùng cũng chỉ như con lừa đội bộ da sư tử mà thôi.

Đừng nên mơ làm sư tử. Hãy trở về với căn tính dân tộc, căn tính rùa, trở về với ước nguyện dựng nước và giữ nước nghìn năm của cha ông, như thế nước ta mới khá được, dân ta mới có tương lai, một tương lai có thể không chói lóa rực rỡ làm kinh động thế gian, nhưng ít ra cũng sáng sủa và trường cửu, một tương lai của loài rùa.

Adieu sư tử! Rùa muôn năm! Sieg Heil!

14/04/2009

Puntlandia delenda est

I believe that the current situation in Annam is bad enough for an Annamishman to really care of the outside world. Besides, Annamish foreign trades and commercial benefits – humble as they are – are not badly affected by piracy of the Horn of Africa. However it doesn’t prevent a good-for-nothing lad like me to discuss nonsense stuffs in his blogs, isn’t it?

Observing the recent situation of increasing piracy off the coast of the Horn of Africa, one might conclude that the force currently used to deal with pirates are not at all understrength, but really ineffective. It’s totally hopeless to station powerful fleets to patrol vast spaces of the ocean, with occasional encounters and defeats of small pirate squads on tiny boats. The bulk of multi-thousand strong pirate forces still remain intact in their bases on the long coast of Puntland, refilled with new recruits everyday, and ready to launch new raids at any time and any place at will on the ocean surface. What such those large fleets of nations can do against them?

I know there are many reasons for those fleets to keep patrolling the ocean without conducting campaign on the shores Puntland in order to weep out the pirates once for all. However, it is sad but true that the piracy off the coast of the Horn of Africa can only be eliminated with determination, not hesitation. The navies can keep stationing their fleets off the coast for centuries and it is unlikely that the situation will someday become better by itself, without any intervention on land, either from the West or from Ethiopia or any other forces. What is badly need right now, is to overcome those mental obstacles and to conduct warfare against pirates on their land.

I really think that the countries who want to maintain a safe trade route in the Indian Ocean right now really need a competent general and leader like the Roman Pompey the Great, who knew well the right way to deal with pirates, who had strength, will, and especially power enough – not only at sea but also at land – to pursue the ultimate goal, who “made his preparations for the war at the end of the winter, entered upon it at the commencement of spring, and finished it in the middle of the summer”. Above all, he should have know the necessity of crushing the pirate ashore, destroying their bases and supplies, while at the same time being able to ignore destructive complains and attacks from useless politicians, pacifists, and kinds of idiots. And last but not least (although it seems not to be at the same level of urgency), he should also take care of the welfare of the people on the coast, like Pompey the Great did with the ex-pirates who surrendered to him, to be sure that poverty will not push them into piracy again. Only then would the piracy problem be able to come to a quick end. The trouble is, who can be that Pompey the Great? I think Obama could potentially be one, or at least he could find one, but let us see then… (I myself never really trust in that Kenyan).

13/04/2009 – on hearing the news of MV Maersk Alabama.

Military lotflolz

Once when I did some small researches on European military history as a hobby, some funny jokes suddenly appeared in my mind… Well they’re not real jokes because they are all FACTS – however they’re funny so I hope you would enjoy.


Battle of Crecy

Battle of Crecy

Let us start with some French and English hors d’œuvre:

How could the Irish boast that they could beat the English?

They fought alongside with the French, and when the French beated the English, the Irish claimed the victory for themselves.

Fontenoy was the greatest example of that Irish pride.

In which way did the English claim that they were invincible against the French?

They always fought the French alongside with other allies (the Dutch, the Hanoverians, the Prussians, etc) so that they could blame their allies for the defeat. When having to face the French by themselves, they simply withdrew.

Examples: Fontenoy, Steenkirk, Neerwinden

What made the French victorious in their wars?

The French were usually victorious in wars if they were NOT led by a Frenchman, people of French origin. Following are notable examples:

- Napoleon Bonaparte, undisputedly the greatest military leader of France, who led the French to victories against the Austrians, Prussians, Russians, Spaniards, etc… was in fact an Italian of Corsican origin.

- The marshal general and greatest military leader of France before Napoleon was Maurice de Saxe, a (as his surname might imply) German from Saxony, son of the king of Poland.

- Jeanne d’Arc, who defeated the English in the Hundred Years’ War, was neither a Frenchman (she’s a Frenchwoman).

If so, then who is the greatest French military leader?
On the contrary, the greatest military leader of French origin, prince Eugene of Savoy-Carignan (Napoleon was excluded because he was Italian, not French), made up his career in the Imperial (Austrian) army and scored a lot of decisive victories against… France. Eugene and his English contemporary Marlborough were considered France’s most hated foes.

Battle of Custoza

Battle of Custoza

Now comes the entrée, miladies and milords, we hope you would enjoy it:

THE HEROIC MILITARY TRADITION OF ITALY

The most well-known battles in the history of Italy were Italian defeats: Novara, Custoza, Adowa, etc.

Occasionally, when the Italians were victorious, they are usually found fighting alongside with the French (who played a much more important role): Magenta, Solferino, Sebastopol. When despised and abandoned by the French, the Italians turned to the Germans for help to conquer Greece and Egypt and defeated the British at Tobruk and Gazala. Like the Irish, the Italians were inclined to claim their allies’ victories as their own, though not so excessively as the Irish did.

Other well-known battles are mostly fought between Italian states, pitching Italians against Italians: Legnano, Fossalta, Montaperti, Benevento, Milazzo, Gaeta, Volturno, Castelfidardo (numerous of them).

Italian victories against foreign forces, as rare and trivial as they were, were mainly fought by mercenaries and their condottieri. Italians were more excellent merchants than good soldiers, so they usually paid others to fight for them. It was a reasonable calculation though.

In the largest true Italian victory, the naval battle of Lepanto against the Turks, the combined fleet of Italian states (notably Venice and Sicily) was commanded by Don Juan, a Spanish prince. It should be noted that before Lepanto, Italian navies fighting by themselves were constantly defeated by the Turkish fleet, like at Zonchio, Modon, Preveza, Djerba.

Italians had the tradition of, when being vanquished by foreign forces, crowning the conqueror their king, in order to console their defeat. That was how Charlemagne, emperor of the Franks, became king of the Lombards (Italians was called Lombards in early medieval period). Napoleon Bonaparte, emperor of France, was crowned king of Italy for the same reason; the Italians consequently boasted that an emperor in France is only worth a king in Italy. Fortunately for the pride of the Italians, Napoleon was himself an Italian born in Corsica.

The Italians were, however, men of honor. Unlike the English, they did not blame their allies for defeats, for example in El Alamein.


And now is the time for the main course of this banquet:

THE GLORIOUS MILITARY TRADITIONS OF THE EVER-VICTORIOUS PEOPLE OF GREAT ANNAM

The GLORIOUS military traditions of the EVER-VICTORIOUS people of GREAT Annam were very different from those of the frankly coward Italians:

Historically, the Annamese emerged victorious in all wars against the Chinese.

If there “happened” to have a war in which the Annamese lost, Annamese historians simply merged it with the next war, and so on until there came out a war that the Annamese won; all those wars then would be considered as a single war (perhaps with some long, peaceful interludes) in which the Annamese were the ultimate victors.

That explains incredibly prolonged “wars” academically named Twenty Years’ War of Resistance against the Ming (which in fact included three separate wars against Ming forces, a civil clash, and a smaller armed conflict), or Thousand Years’ War of Resistance against Northern Agression (comprised of countless arms conflicts, invasions, rebellions, civil wars, etc from 40 to 938).

They were also victorious against the French.

Obviously the Annamese have learnt that ever-victorious strategy (mentioned above) from the French, who counted four separate medieval wars (they lost three of which) against the English as one single war called the Hundred Years’ War. This strategy became a bitter backlash to the French, who found themselves ultimately defeated by Annamse historians in another Hundred Years’ War from 1858 to 1954 (of which the French won almost all major battles except for the last one at Dien Bien Phu).

The Annamese had defeated strongest military powers in history.

Besides the Chinese and the French, the Annamese boasted to have defeated the Mongols, because they had repulsed two Chinese invasions commanded by some Semu (Western Asians) generals. Similarly, they claimed to have defeated the Manchus due to the fact that they had utterly routed a contigent of Cantonese soldiers and tribal militias, commanded by a Chinese civil official. As there were a large number of Germans in the French Foreign Legion, the Annamese might be considered to have defeated Nazi Germany too.

The Annamese is always a peace-loving nation.

While the Annamese claimed themselves to be peace-loving, they waged wars against all their neighbouring countries and defeated them all, using the same strategy described above.

They usually did not attack distant countries, due to poor communication infrastructure (Road and traffic systems in Annam were traditionally and infamously terrible; the French had attempted to improve the situation a little bit, but as soon as the French left, the stubborn Annamese quickly returned to that much beloved… tradition).

When there was no neighbour left to attack, the Annamese were also fond of fighting each other. In such civil wars, which side would win was not an important issue to concern, since after all the winners would definitely be Annamese.

The Annamese never blamed their allies for defeats because:

- As stated above, they considered themselves to be ever-victorious, so defeated were simply omitted.

- They hardly got any real ally (they waged wars against all potential ones).

Traditional strengths and weaknesses of Annamese military:

- Annamese military traditions did not emphasize siege warfare due to the facts that most of the wars they fought were civil wars and on Annamese soil, where there was almost no real fortress of high defensibility – their construction proved too expensive for such a poor nation. Occasional confrontations with “real” fortifications – for example the Vauban-styled citadel of Saigon built by French engineers – usually rendered the Annamese helpless, who did not know what to do but to starve the besieged inside for some years – or decades.

An exception: Tran Hung Dao was hailed as the genius of siege warfare in the history of Annam, because he was wise enough not to conduct any siege warfare.

- Naval warfare, on the contrary, occupied a place so high in the military traditions of the Annamese, that they never lost any naval battle on high seas – in reality they hardly even reached there.

- Eunuchs played an important role in the military history of the Annamese. Three among four main dynasties of Annam had their most notable generals eunuchs: the Ly had Ly Thuong Kiet, the Le Hoang Ngu Phuc, and the Nguyen Le Van Duyet. The Tran was an exception because they were inclined to commit incestuous affairs and therefore did not like to trust military power to any one outside the royal clan.


Phát kiến địa lý, truyền giáo, do thám, và chinh phục

1. Những nhà truyền giáo – do thám

Khi các giáo sĩ đến truyền giáo ở những vùng đất xa xôi chưa được biết tới rõ ràng, thì y như rằng họ sẽ vẽ bản đồ về xứ sở ấy, sẽ ghi chép những thông tin họ biết về xứ sở ấy, bao gồm địa lý, kinh tế, văn hóa, nhân văn, phong tục, thể chế, triều cương, phòng thủ, binh bị, vân vân. Trong sách lịch sử của những nước phương Đông xã hội chủ nghĩa (ví dụ Trung Quốc, Việt Nam), những hành vi này thường bị gán cho cái nhãn là “do thám” để chuẩn bị cho những công cuộc xâm lược thực dân trong tương lai. Nhưng thực ra những thông tin ấy có mang tính “bí mật quốc gia” gì mà phải do thám nhỉ? Nếu ta đọc “Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài” của nhà truyền giáo – do thám Christoforo Borri, ta sẽ thấy là tất cả những thông tin mà tác giả nhắc đến đều được góp nhặt trong cuộc sống thường nhật của ông ở vùng đất này, qua những điều tai nghe mắt thấy, và những điều ông nghe, ông thấy, thì mọi người dân bình thường khác cũng đều nghe, đều thấy cả; nói tóm lại, những nhà truyền giáo – do thám này đơn thuần là tường thuật lại những điều mắt thấy tai nghe về phong tục, tập quán, văn hóa, sinh hoạt, thể chế, tổ chức xã hội, vân vân, ở những vùng đất xa lạ đối với người phương Tây, hơn là để tâm khám phá những bí mật quốc gia hay bí mật quân sự mang ý nghĩa đặc biệt chiến lược nào đó. Nếu bảo họ là do thám thì chắc chắn những du khách ngày nay hễ đến nước nào là cứ săm soi đủ mọi ngóc ngách đời sống, lại còn chụp ảnh quay phim làm “tài liệu gián điệp” đem về, cũng không thể nào thoát khỏi cái mũ đó…

Với một tâm nhìn bao quát hơn, ta phải thừa nhận rằng thực ra công việc này không phải chỉ những nhà truyền giáo mới làm, mà hầu hết những người trở về sau những chuyến phiêu du kỳ thú như vậy – do dù mục đích chính của chuyến đi là thám hiểm, truyền giáo, buôn bán, du lịch, hay gì khác – đều sẽ có hàng bao nhiêu thiên truyện để kể về những vùng đất mình đã đặt chân đến. Họ sẽ viết sách, sẽ vẽ minh họa, sẽ lập bản đồ, sẽ huyên thuyên (và có phần hơi “nổ”) về những điều kỳ lạ mắt thấy tai nghe, và nếu như có máy chụp ảnh hay quay phim thì chắc chắn là họ sẽ trưng ra không ít phim ảnh, y như những du khách thời nay vậy. Người xưa thậm chí còn có nhiều động lực hơn với việc này, bởi nói một cách công bằng thì vào mấy trăm năm trước, khi giao thông còn chưa phát triển, thì những thông tin địa lý mới mẻ do khách viễn du đem về càng quý giá và ấn tượng bội phần đối với kẻ ở nhà. Chúng ta không có mấy cơ sở để tin rằng khi chàng Gulliver mô tả tỉ mỉ cặn kẽ những vùng đất mà chàng từng lạc đến, tức là chàng đang âm mưu vận động các nhà tư bản Anh Cát Lợi tiến hành xâm chiếm Lilliput hoặc cướp bóc Blefuscu, hay có ý định kêu gọi những nông dân Ái Nhĩ Lan đến đánh đuổi loài Houyhnhnm cao quý để chiếm đất trồng khoai tây, đồng thời nô lệ hóa bầy Yahoos hạ đẳng để bắt chúng làm việc trong những đồn điền trồng bông. Những thông tin “tối mật” mà chàng “do thám” được ở những xứ sở này về bản chất hoàn toàn không có gì bí mật hơn so với những truyền kỳ ở những vùng đất xa xôi mà những khách lữ hành kể cho nhau nghe trên con đường hành hương đến Canterbury, so với câu chuyện mà người tù binh Kitô giáo kể lại cho hiệp sĩ Don Quixote nghe về hành trình lưu lạc của mình qua các xứ Hồi giáo, hay so với những chi tiết về xứ sở Cathay huyền bí ở phương Đông mà Marco Polo kể lại khi đang ở trong nhà tù xứ Genoa.

Hơn nữa, công việc tường thuật, ghi chép lại về những vùng đất mình đã đi qua cũng không chỉ có người phương Tây mới làm; bất kỳ nhà du hành nào cũng đều có khuynh hướng đó, bất kể đông tây, cứ đi qua đâu mới lạ là sẽ quay phim chụp ảnh, nếu không thì cũng ghi chép lại mới thôi. Nhà sư Huyền Trang từ Thiên Trúc trở về chẳng đã ghi chép lại rất kỹ tình hình – không chỉ tình hình tôn giáo, mà còn là văn hóa, phong tục, kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, ngoại giao – của các nước mình đi qua trong quyển “Đại Đường Tây Vực Ký” đó sao? Đạo sĩ Lý Chí Thường sau khi hộ tống sư phụ sang cõi tây yết kiến Thành Cát Tư Hãn chẳng cũng đã viết nên “Trường Xuân chân nhân tây du ký” đó sao? Rồi còn những sứ giả như Trương Khiên, Trịnh Hòa nữa, họ chẳng phải cũng là những người phương Đông đem về những thông tin quý giá và mới mẻ về những vùng đất xa xôi mà họ từng đi qua đó sao? Và nếu bản thân tôi có dịp du hành qua những thung lũng và đồi núi khô cằn của Tatooine hay chiêm ngưỡng những đỉnh núi trắng hùng vĩ và mặt nước tĩnh lặng mê hồn dưới bầu trời xanh ngắt của hành tinh Naboo, nơi mà không mấy người Trái Đất đã từng có dịp đặt chân đến, thì chắc chắn là tôi cũng không thể sử dụng đến hình chụp, tranh vẽ, và những áng văn miêu tả trác việt… để chia sẻ với người Trái Đất một phần nào những trải nghiệm tuyệt vời đó. Và cả bạn nữa, cả bạn, cả tôi, tất cả chúng ta đều cũng sẽ làm như thế thôi. Mà nếu đó đã là kuynh hướng mà mọi khách du lịch đều có, thì việc chụp cái mũ “do thám” lên trên đầu những nhà truyền giáo viết về những xứ sở xa xôi kia rõ ràng là không công bằng với họ.

(Vạn Quốc Toàn Đồ của Matteo Ricci, bằng chữ Hán)

2. Vấn đề trao đổi thông tin

Nhân nhắc đến những khách du lịch đến những chân trời xa lạ, những đoàn lữ hành băng qua những vùng đất mới mẻ, gặp những con người mà họ chưa từng thấy và có lẽ cũng chưa từng thấy họ, ta khó có thể hình dung cuộc tiếp xúc đó là trao đổi một chiều được. Gần như chắc chắn là kẻ lãng du kia sẽ hăm hở hỏi han người bản xứ, quan sát những phong tục địa phương, và tọc mạch khắp các hang cùng ngõ hẻm mà anh ta có cơ hội thăm thú; nhưng những người dân bản xứ e rằng cũng khó mà buông tha cho vị khách lạ đến từ một xứ sở xa xôi chưa từng nghe nhắc đến mà không ngắm nghía anh thật kỹ càng, sờ mó anh thật cẩn thận, và cật vấn anh một cách có phần thái quá về xứ sở quê hương mà từ đó anh ra đi: “Ngài từ đâu đến? Bồ Đào Nha à, xứ ấy có xa không? Đi biển những một năm cơ à? Đức hoàng thượng của các ngài vẫn an khang chứ? Ngài kể thêm cho chúng tôi nghe về xứ xở của ngài đi. Thứ này gọi là viễn vọng kính à? Thế những quả cầu với những vòng sắt và viên bi rắc rối kia dùng để làm gì?” Quả thật không phải ai cũng có cơ hội được đi chu du thiên hạ, nhưng óc tò mò và lòng khao khát biết đến những điều mới mẻ thì không phải của riêng ai, cả phương Đông lẫn phương Tây.

Tôi đưa ra ví dụ đó để chúng ta thấy rằng vấn đề trao đổi thông tin trong giao lưu văn hóa Đông – Tây, thông qua những nhà thám hiểm, những nhà truyền giáo, những khách thương buôn, những kẻ phiêu lưu, không phải là trao đổi một chiều mà là nhiều chiều, qua đó mọi phía đều trao đổi những thông tin mình biết để lấy những thông tin mới, và tất cả các bên đều thu được lợi ích về cho mình – lợi ích nhiều hay ít thì còn phải tùy thuộc việc họ ứng dụng những thông tin mới ra sao. Thật vậy, trong lịch sử giao lưu Đông-Tây, những nhà du hành phương Tây không những đem những thông tin mới mẻ từ phương Đông về cho xứ sở mình, nhưng còn đem những thông tin, kiến thức của phương Tây đến cho cư dân thế giới phương Đông mà họ ghé đến. Họ không những vẽ bản đồ của những xứ sở phương Đông đem về nước, mà còn dâng cho những triều đình phương Đông những bản đồ, địa đồ, địa cầu của phương Tây. Những kiến thức về địa lý, văn hóa, và kỹ thuật phương Tây đã được khá nhiều nhà truyền giáo phương Tây vận dụng để kết giao với các đế vương hay giai cấp trí thức phương Đông, mà trường hợp tiêu biểu có thể kể đến Lợi Mã Đậu, Nam Hoài Nhân, Thang Nhược Vọng ở triều đình Trung Hoa, vân vân. Như thế, không những công cuộc phát kiến địa lý của người phương Tây đem lại cho họ những thông tin mới mẻ từ phương Đông, mà cũng đem lại cả cho người phương Đông những thông tin mới mẻ từ phương Tây nữa: một ví dụ có thể làm nhiều người ngạc nhiên là việc người Trung Hoa vốn tiến bộ về nhiều lĩnh vực, nhưng chỉ biết rằng trái đất tròn từ thế kỷ 17, nhờ những kiến thức thiên văn và địa lý do người Tây (vốn biết điều đó từ thời thượng cổ) đem đến. Nhưng đồng thời lịch sử cũng có vô số ví dụ khác cho thấy rằng người phương Đông cũng không hề thua kém người phương Tây về tính tọc mạch và ham hiểu biết: Việc người An Nam chẳng bao lâu đã đúc thần công không kém người Bồ Đào Nha, việc người Nhật Bản áp dụng kỹ thuật chế súng hỏa mai một cách đại trà đến nỗi có nhiều súng hơn cả các nước phương Tây, việc những học giả Trung Hoa (như Từ Quang Khải) đã biết ứng dụng kiến thức khoa học phương Tây để phát triển công nông nghiệp xứ mình, việc những sứ thần và con tin Triều Tiên ở Trung Hoa (như thái tử Chiêu Hiển) đã tìm mọi cách đem về nước bản đồ, địa chí, và công trình khoa học của phương Tây, việc vương quốc Ayutthaya và nước Xiêm La kế tục đã không ngần ngại thiết lập quan hệ trực tiếp với các triều đình phương Tây, thậm chí gửi cả sứ thần đến Versailles, vân vân, những ví dụ đó cho thấy chỉ cần có cơ hội, người phương Đông cũng sẽ vô cùng hăm hở tìm hiểu về phương Tây cũng như người phương Tây tìm hiểu về họ.

3. Vấn đề chinh phục và thuộc địa hóa

Nhưng nói gì thì nói, cho dù những nhà thám hiểm quan tâm đến lợi ích thương mại hơn là chiến tranh cướp bóc, những nhà truyền giáo hăng hái chinh phục các linh hồn chứ không mơ chinh phục đất đai, thì những phát kiến (đối với người phương Tây) về địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội của các xứ sở phương Đông mà họ đem về cho thế giới của mình đã đóng vai trò là một tiền đề quan trọng bậc nhất và cốt lõi trong việc phương Tây chinh phục phương Đông về sau. Thử nghĩ xem, làm sao mà người Hòa Lan có thể đến chiếm cứ quần đảo Gia Vị nếu họ không biết nó nằm ở đâu trên thế giới, hay làm sao mà người Anh bỏ cửa sông Châu Giang để đánh đến Đại Cô nếu như họ không nắm vững địa lý và hiểu rõ nội tình chính trị Trung Hoa? Rõ ràng không thể phủ nhận rằng phát kiến địa lý dẫn đến giao thiệp thương mại giữa phương Đông và phương Tây, và sau đó thì những xung đột xảy ra giữa họ xem ra khó mà tránh khỏi.

Các nước phương Tây đã gây chiến và chinh phục các nước phương Đông, đó là một thực tiễn lịch sử. Nhưng với một góc nhìn lịch sử rộng lớn và đầy đủ hơn, ta cũng sẽ phải thấy ngay rằng các nước phương Tây còn gây chiến tranh chống lại nhau nhiều hơn nữa. Những cuộc chiến giữa một nước phương Tây này với một nước phương Tây kia, hay một quốc gia phương Tây bị một quốc gia phương Tây khác thôn tính, là những “chuyện thường ngày ở huyện” trong suốt lịch sử phân liệt của châu Âu, cả trước và sau khi đế quốc Tây La Mã diệt vong. Về mặt này người phương Đông cũng không khá hơn, bản thân lịch sử phương Đông thời cổ, trung và cận đại cũng bị bao phủ bởi những cuộc chiến tranh liên miên giữa vô số các quốc gia lớn có nhỏ có, giàu có nghèo có, mạnh có yếu có, không khi nào dứt. Với bản chất hiếu chiến từ cả hai phía như thế, thì việc người phương Đông và phương Tây hầu như không hề có những xung đột đáng kể trước khi những phát kiến địa lý diễn ra, đó có phải là một điều kỳ lạ hay không? Thật ra là không kỳ lạ chút nào. Câu trả lời có vẻ thật đơn giản, nhưng chính vì đơn giản mà nó không thể chính xác và dễ hiểu hơn được nữa: làm sao mà nước này có thể giao tranh với nước kia khi mà chúng ở quá xa nhau, ở ngoài tầm tiếp vận hậu cần cho quân đội? Hoặc tệ hơn nữa, làm sao mà nước này có thể giao chiến với nước kia khi mà thậm chí họ còn chẳng biết gì về nhau, hay thậm chí còn chẳng biết là đối phương có tồn tại hay không nữa?

Chúng ta hãy thử điểm qua một vài ví dụ trong lịch sử: Nếu như đế quốc La Mã và đế quốc Đại Hán không hề có chiến tranh với nhau, thì chẳng phải vì hai đế chế này yêu chuộng hòa bình hay tôn trọng lẫn nhau; nguyên nhân đơn giản là vì khoảng cách địa lý giữa họ quá xa xôi, phương tiện giao thông chưa phát triển đủ để phục vụ hậu cần, quan hệ trực tiếp hầu như không có, và thông tin về nhau còn quá mờ mịt và thiếu sót, nói tóm lại là những điều kiện văn hóa, địa lý, xã hội, kỹ thuật, vân vân, vào thời kỳ ấy chưa đủ để hai đế chế ở hai đầu Đảo Thế Giới có thể tiếp xúc và xung đột với nhau. Còn đối với những nước lân bang kề cận mà họ biết quá rõ, thì họ đều khó lòng bỏ qua: nhà Hán tỏ ra chẳng ngại ngần gì mà không nuốt chửng các bộ tộc Bách Việt cũng như các binh đoàn lê dương La Mã đã thôn tính xứ sở của người Gaul, và giao tranh giữa La Mã và Parthia cũng ác liệt chẳng kém các trận chiến Hán-Hung Nô dai dẳng. Hoặc nếu như vương quốc Castilla thiện chiến không chinh phạt Phi Luật Tân từ sớm, hẳn nhiên không phải là vì các vị vua Công giáo của xứ này kính sợ Chúa mà không dám động đến binh đao; đơn giản là vì khi ấy họ chẳng biết nó nằm ở đâu trên trái đất cả… Nhưng một khi người Tây Ban Nha đã đặt chân đến được Phi Luật Tân (và đặt tên cho nó theo tên thái tử nước mình), đồng thời kỹ thuật hàng hải phát triển đủ để họ tiếp vận cho quân đội ở những vùng đất xa xôi nhường ấy, thì họ tỏ ra cực kỳ hung hãn và tiến hành đô hộ một cách hăng hái chẳng kém gì khi xung trận chém giết người Moor. Và nếu như William Kẻ Chinh Phục đi chinh phục Anh quốc chứ không phải Ấn Độ, hay Louis Vua Mặt Trời muốn thôn tính xứ Nederland chứ không phải xứ Đông Dương, thì hẳn là chúng ta cũng đã rõ là không phải họ có lòng thương xót gì Ấn Độ hay Đông Dương cả… Nếu như – do một sự ngẫu nhiên nào đó của lịch sử địa lý – mà nước Đại Nam lại nằm ở hạ lưu sông Rhine chứ không phải là trên một bờ biển cách xa nước Pháp hàng vạn hải lý, thì có lẽ nó đã bị vua Louis lăm le thôn tính từ lâu rồi chứ chẳng cần phải chờ đến khi hoàng đế Napoleon III phái chiến hạm Catinat đến nã pháo vào cửa Đà Nẵng làm chi.

Cái quá trình những cộng đồng người từ chỗ hoàn toàn không biết gì đến sự hiện diện của nhau, tiến đến việc nghe được thông tin về nhau, rồi sau đó chính thức tiếp xúc với nhau, từ đó thiết lập quan hệ hoặc hữu nghị hợp tác hoặc xung đột tranh đấu, quá trình đó đã tồn tại trong suốt lịch sử loài homo sapiens sapiens, từ khi con người còn sống thành bầy đàn cho đến tận ngày nay. Không những nó chỉ tồn tại thôi, nó còn chi phối một cách bao trùm lên toàn bộ tiến trình lịch sử của con người nữa. Và chúng ta có lý do để tin tưởng rằng, nếu trong tương lai con người có khả năng du hành vào vũ trụ và tiếp xúc với nhiều nền văn minh khác, thì – tùy vào trình độ phát triển tương đối của những nền văn minh đó so với chúng ta – mối quan hệ mà chúng ta thiếp lập với họ cũng sẽ không có gì khác biệt về bản chất so với mối quan hệ giữa các nền văn minh của chúng ta với nhau hiện nay: đã quen biết nhau thì ắt phải có quan hệ, đã lập quan hệ ắt đi kèm với giao thương; mà giao thiệp với nhau thì dễ xảy ra xích mích bất đồng, làm ăn buôn bán thì không tránh khỏi những va chạm về lợi ích: chiến tranh Nha Phiến chẳng phải bắt đầu từ việc lợi ích kinh tế của thương nhân Anh buôn thuốc phiện bị ảnh hưởng do lệnh cấm thuốc phiện của chính quyền nước Thanh đó sao? Nếu như châu Âu và Trung Hoa không biết về nhau, nếu nước Anh Cát Lợi không giao thương buôn bán với nước Thanh, thì liệu có thể xảy ra những chuyện chuyện chinh chiến đó chăng? Rõ ràng là không. Vậy phải chăng Anh Cát Lợi và Trung Hoa tốt nhất là không cần biết đến nhau, không cần phải giao lưu quan hệ với nhau, mọi nước đều bế quan tỏa cảng, như thế sẽ tránh được họa chiến tranh? Dĩ nhiên cũng không nốt. Vấn đề phát triển giao lưu, mở rộng tầm nhìn luôn là một xu thế tất yếu, và phản ứng “bế quan tỏa cảng” một cách tiêu cực cũng chẳng thể giải quyết được vấn đề, bởi một khi bản thân mình vẫn còn yếu kém thì cho dù có đóng cửa bế quan thì kẻ mạnh hơn cũng sẽ đến tận ngõ mà phá cửa đi vào thôi.


(Hải chiến Đối Mã Đảo, tranh phù thế)

4. Thân phận nhược tiểu

Thật vậy, có một thực tế không thể không nhắc đến, đó là trong lĩnh vực chính trị – quân sự, không mấy ai lại muốn gây chiến với kẻ mạnh hơn cả – việc phải giao tranh với kẻ mạnh hơn mình, nếu bắt buộc phải thực hiện, thì chỉ là một công việc chẳng đặng đừng mà thôi. Mọi quốc gia có đều chỉ muốn tấn công kẻ (mà họ cho là) yếu hơn, và tìm cách tránh những cuộc chiến với kẻ mạnh hơn họ, với điển hình là nước An Nam thời Trung cổ mà chúng ta đã nắm quá rõ lịch sử: họ cúi đầu xưng thần trước Trung Hoa hùng mạnh, hòa hoãn với nước Xiêm La ngang cơ, đồng thời ức hiếp Chiêm Thành, Chân Lạp, Vạn Tượng yếu thế hơn. Điều này cũng không có gì đáng trách, bởi nó hoàn toàn phù hợp với suy nghĩ hợp lý của con người. Và nếu đã không trách cứ nước An Nam đã hành động một cách hợp lẽ, ta cũng không thể nào trách cứ các quốc gia phương Tây đã đem thuyền bè vượt hàng vạn dặm biển đi đánh những dân tộc yếu ớt ở những cõi bờ xa thẳm.

Ta nhận thấy những nước phương Tây đi đầu trong việc chinh phục thuộc địa đa phần không phải là những nước hùng mạnh; họ thường có vị trí địa lý ở nơi “chân trời góc biển” ngoài rìa châu Âu, và không có mấy cơ hội can dự đáng kể vào tình hình thuộc địa. Trong khi những quốc gia hùng mạnh ở giữa châu Âu như Pháp, Ba Lan, hay Áo thường nhắm đến những nước nhỏ quanh mình, tìm kiếm những lợi ích thiết thực và cụ thể hơn nằm trong tầm tay của họ, thì những nước nhỏ ngoài rìa như Anh, Hòa Lan, Bồ Đào Nha, do ít có cơ hội tranh hùng trong lục địa, sẽ dành nhiều tâm huyết hơn cho việc tìm kiếm và khai thác lợi nhuận từ bên kia các đại dương. (Mọi người có thể chỉ ra một ngoại lệ to đùng là nước Tây Ban Nha, với một hệ thống thuộc địa rộng lớn cả ở Tân Thế Giới lẫn ở phương Đông, và đồng thời cũng là quốc gia có ảnh hưởng chính trị hàng đầu ở châu Âu trong một thời gian không ngắn; nhưng xin đừng quên rằng chính lợi nhuận khổng lồ thu được từ việc khai thác những vùng thuộc địa xa xôi cũng như từ việc giao thương với các dân tộc xa lạ đã đã biến xứ sở Tây Ban Nha quê mùa trở thành một cường quốc ở lục địa, chứ không phải ngược lại). Việc lựa chọn giữa giao thương và chinh chiến, giữa chinh phạt nước này và tấn công nước kia, do dù ở phương Đông hay phương Tây, lục địa hay hải dương, đều dựa trên cơ sở cân nhắc lợi ích, và một người có lý trí chắc hẳn sẽ đi theo lựa chọn nào đem lại nhiều lợi ích và ít rủi ro nhất: tấn công một nước yếu hẳn nhiên là ít rủi ro hơn tấn công một nước mạnh, và chinh phục một xứ trù phú chắc chắn sẽ thu lợi nhiều hơn là chinh phục một xứ nghèo nàn. Và dựa trên cơ sở cân nhắc lợi ích đó, dĩ nhiên là những dân tộc yếu hèn ở phương Đông sống trên những mảnh đất trù phú đầy tài nguyên là những con mồi hấp dẫn của quá trình chinh phục và thuộc địa hóa – tự thân sự yếu hèn đã chẳng khác nào một lời mời gọi kẻ khác đến đè đầu cưỡi cổ mình rồi.

Như vậy, trong một thế giới mà việc mở rộng nhãn quan và quan hệ quốc tế là điều tất yếu, nếu một quốc gia muốn tránh khỏi số phận bị chèn ép, nô dịch, thì điều quan trọng cần phải làm không phải là bế quan tỏa cảng, hạn chế giao lưu, hay cấm đoán thương mại, mà chính là việc làm cho mình trở nên cường thịnh, khiến cho những quốc gia khác phải kiêng dè và – sau khi cân nhắc lợi hại đủ đường – chọn mối quan hệ giao thương hơn là giao chiến. Ví dụ điển hình là trường hợp của Nhật Bản: khi đề đốc Perry đem bốn chiếc “tàu ô” Mỹ vào đậu trong vịnh Edo năm 1853, làm áp lực buộc mạc phủ Nhật Bản phải mở cửa thông thương, người Nhật Bản đã ý thức ngay được thế yếu của mình, và quyết tâm tự cường để trở nên hùng mạnh. Xem ra họ học tập rất nhanh, bởi chỉ hơn hai mươi năm sau, Kuroda Kiyotaka đã có thể đem binh thuyền đến đổ bộ lên đảo Giang Hoa để buộc nước Triều Tiên mở cửa thông thương với Nhật Bản (điều ước Giang Hoa năm 1876). Người Xiêm, ở một chiều kích ít ấn tượng hơn, cũng đã bảo tồn được nền độc lập nhờ sự kết hợp giữa một chính sách tự cường hợp lý và một đường lối ngoại giao khéo léo với các cường quốc trên biển – nếu điểm lại lịch sử, chúng ta dễ dàng nhận thấy dường như sự mềm dẻo và khéo léo về ngoại giao là một truyền thống của dân tộc Xiêm La từ ngàn xưa. Ngược lại, những quốc gia không biết phấn đấu tự cường, thì dẫu có kiên gan chống cự cũng không có mấy tác dụng. “Thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh?” Hễ cứ gào to “Hy sinh!” là có thể đuổi được giặc một cách duy ý chí thế sao? So với người Nhật chỉ cần bóng bốn chiếc “tàu ô” trong vịnh Edo là đủ để họ thức tỉnh không cần một phát pháo nổ, thì người Nam ta kể cũng có phần hơi tội: pháo thuyền Tây Dương đã thị uy không ít lần để buộc nước Nam phải mở cửa thông thương, mỗi ngày một quyết liệt hơn: năm 1856 chiến hạm Catinat vào cửa Đà Nẵng; hai năm sau liên quân Pháp – Tây Ban Nha bắn phá thành trì trên bán đảo Sơn Trà; một năm sau nữa Genouilly đem thuyền vào cửa Cần Giờ và hạ luôn thành Gia Định. Đến nước ấy mà nước Nam vẫn còn chưa tỉnh mộng để tiếp nhận những điều kiện khiêm tốn mà người Pháp đòi hỏi. Để đến khi phó đô đốc Charner công phá Đại Đồn ở Kỳ Hòa thì việc mất đất dường như đã không còn phương vãn hồi nữa, và đến điều ước Patenôtre (hơn hai mươi năm sau) thì đến cả nền độc lập cũng đi tong… Trong hai mươi năm nước Nhật đã từ một nước yếu ở châu Á trở thành một cường quốc, khiến cho phương Tây phải kiêng nể và không còn dám áp bức họ nữa (tới cuối thế kỷ 19 thì bao nhiêu hiệp ước bất bình đẳng mà phương Tây ký với Nhật đều đã bị hủy bỏ cả rồi), còn nước Nam vẫn dậm chân tại chỗ như thế, thì có rơi vào vòng “bảo hộ” của người ta cũng phải trách mình trước tiên chứ không thể trách người được: “Dân mạnh tới một xứ yếu, thấy xứ nầy vua hèn dân ngu, nói phải chẳng nghe, dạy khôn không hiểu, thì họ không chiếm trị còn để làm gì? Thứ quốc gia dân tộc thế ấy chẳng mất vào tay kẻ mạnh nầy cũng mất vào tay kẻ mạnh khác; sự suy vong đó đáng kiếp cho cái xứ có vua hèn dân ngu và sự xâm lược cũng là cái quyền tự nhiên của giống mạnh.” (Đào Trinh Nhất)

5. Si vis pacem para bellum

Nếu kết tội những nhà thám hiểm, thương buôn và truyền giáo đem lại cho các dân tộc sự hiểu biết về nhau là đã dọn đường cho xâm lặng, thực dân, và đô hộ của những thế kỷ sau đó thì dường như quá vô lý, chẳng khác nào khuyên người tiền sử nên phế bỏ lửa vì lửa dễ gây ra cháy bỏng, hay không nên ghè đá thành dao vì có thể bị đứt tay. Thật vậy, lửa là một bước tiến lớn của văn minh nhưng cũng là nguồn gốc của nhiều tai ương khủng khiếp, còn dao đồng thời là một công cụ hữu ích bậc nhất trong những bàn tay khéo léo và là thảm họa trong tay những kẻ vụng về; nhưng đâu có thể vì thế mà đổ tội cho những tiến bộ đó được? Việc mở mang tri thức và giao lưu giữa các nền văn hóa cũng tương tự như thế, có cả hai mặt lợi hại tốt xấu, nhưng đằng nào thì tốt cũng hợn xấu, lợi cũng hơn hại, không lẽ nào mà cấm đoán cho được (dẫu muốn ngăn cản cũng vô phương), mà chỉ nên khuếch trương mặt tốt, hạn chế mặt xấu mà thôi. Chứ nếu phản đối những xu thế mở mang giao lưu ấy ( một phần do những nhà thám hiểm, thương buôn và truyền giáo đem lại), lấy lẽ rằng chúng mở đường cho kẻ mạnh hiếp kẻ yếu, phương Tây xâm lược phương Đông, vậy nói cho cùng, phải chăng phương Đông muốn dùng màn sương bí mật ngăn cách Đông-Tây để che chở mình khỏi những nhà thám hiểm, truyền giáo, và chinh phục từ phương Tây đến, và khi màn sương đó dần dần tan đi nhờ những phát kiến địa lý của người phương Tây, thì người phương Đông bắt đầu oán trách người phương Tây đã ấp ủ dã tâm xâm chiếm mình từ khi Marco Polo dấn những bước đầu tiên trên hành trình vạn dặm đến Khanbalik yết kiến Kublai Khan? Điều đó không thể không khiến tôi nghĩ đến những đứa trẻ còn ấu trĩ chưa trưởng thành, còn muốn được che chở bảo bọc trong lòng mẹ (và khi nằm trong đó vẫn có thể thoải mái khoác lác về vị trí “trung tâm” và văn minh “thượng đẳng” của mình) chứ không dám bước ra ngoài biển lớn cuộc đời – cho dù thực tâm tôi vẫn cho rằng các nền văn hóa phương Đông không đến nỗi tệ mạt ấu trĩ như thế.

Đối với những người lên án những phát kiến địa lý của nhân loại, nối kết nó với chiến tranh và đô hộ, thì phải chăng theo họ, mỗi quốc gia nên tự cung tự cấp, mỗi dân tộc nên hùng cứ một phương, không cần biết đến những nước, những dân tộc ở bên ngoài bờ cõi của mình, theo kiểu “núi sông bờ cõi đã chia, phong tục bắc nam cũng khác”, mình tự biết mình mà thôi? Khổ thay, một sự thật phũ phàng mà chính họ không nhận ra, đó là chính những người mang não trạng như thế mới thật sự khiến cho quốc gia của họ bị tấn công và đô hộ. Bởi chính họ và những người có não trạng như họ, chứ không phải ai khác, mới là những kẻ kìm hãm đất nước mình trong tình trạng trì trệ lạc hậu tương đối so với thế giới; mà như trên đã nói, việc bản thân hèn kém mới là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng bị nô dịch. Lịch sử chẳng đã chỉ ra trong muôn vàn trường hợp, rằng hễ bế quan tỏa cảng, bưng mắt bịt tai, không nghe không biết, thì ắt sẽ lạc hậu yếu kém đó sao? Dẫu ta có muốn nước khác không can thiệp đến ta đi nữa, nhưng những nước khác dễ đâu đã chịu? Mà nếu ta đã yếu kém lạc hậu, thì làm sao có thể ngăn cản nước khác can thiệp vào nước mình?

Khi đề cập đến những não trạng này của thế kỷ 19 còn sót lại đến nay, tôi không khỏi liên tưởng tới những kẻ cực đoan ăn sung mặc sướng cổ vũ cho cái gọi là “chủ nghĩa hòa bình” (pacifism, hòa bình thuyết, tôi không dùng từ “phản chiến” bởi nó không chính xác: phản chiến là phản đối một cuộc chiến cụ thể, còn hòa bình thuyết là phản đối mọi khuynh hướng bạo lực và vũ trang) trong thế kỷ 21 của chúng ta, những người làm suy yếu chính quốc gia đã nâng đỡ và hỗ trợ họ. Về mặt này, chủ nghĩa hòa bình cực đoan cũng tai hại không kém, bởi nó làm suy yếu cả cá nhân lẫn dân tộc, phế bỏ khả năng tự vệ của một cộng đồng người chống lại những áp bức từ bên ngoài, và như thế càng thúc đẩy những cộng đồng khác tấn công áp bức họ. Chủ nghĩa hòa bình cùng những chủ thuyết có dây mơ rễ má với nó luôn cố gắng tạo ra một ẢO TƯỞNG (thật sự là một ảo tưởng) rằng nếu như mọi dân tộc đều bãi bỏ binh bị, nấu chảy gươm đao rèn đúc lưỡi cày, mọi người đều tương thân tương ái chia cơm sẻ áo, thì có thể tạo ra một thế giới đại đồng tươi sáng, không còn người này bóc lột người kia, quốc gia này áp bức quốc gia khác. Nhưng thử hỏi, nếu như đã có sáu tỉ người trên thế giới này đồng lòng phế bỏ vũ khí để an hưởng thái bình (một chuyện hầu như không thể xảy ra nổi), nhưng còn lại một người, chỉ một người thôi, không chịu buông vũ khí mà lại dùng vũ khí đó tấn công áp bức sáu tỉ người kia, thì sáu tỉ người kia có thể lấy gì mà ngăn cản được y? Tôi không có ý cho rằng không nên tin tưởng vào cái thiện của con người. Nhưng tin tưởng vào cái thiện của một cá nhân thì còn có lý, vì xác suất trúng cũng là 50%, nghĩa là tương đối lớn; chứ còn đặt cược vào cái thiện của hết thảy sáu tỉ con người thì quả là cực kỳ mù quáng bởi xác suất đúng là cực nhỏ đến nỗi hầu như không tưởng. Không, hòa bình không thể có nếu ta cứ tin tưởng vào bản chất tốt đẹp của TẤT CẢ mọi người, và hy vọng rằng họ sẽ không làm điều xấu đối với những người khác. Hòa bình ổn định chỉ có thể có được khi mọi người đều có khả năng bảo vệ mình và quyền lợi chính đáng của mình, mà muốn có khả năng bảo vệ đó thì không thể không có vũ trang, không thể không tự cường. Có lẽ không có ví dụ minh họa nào rõ ràng cho bằng trường hợp của hai nước Thụy Sĩ và Bỉ trong lịch sử: với diện tích và dân số xấp xỉ nhau, nước Thụy Sĩ đã có thể bảo vệ nền trung lập vĩnh viễn hàng trăm năm của nước mình nhờ vào một thiết chế phòng thủ hùng mạnh – chính thực lực quân sự và tình trạng luôn sẵn sàng quyết chiến ấy khiến cho đến cả Đệ Tam Đế Chế bách chiến bách thắng cũng phải ngán ngẩm mà bỏ qua khúc xương khó nuốt; ngược lại, nền trung lập của nước Bỉ, vốn không đủ sức tự vệ, là hoàn toàn vô nghĩa và đã bị vi phạm liên tục đến độ rút cuộc phải bãi bỏ sau Đệ Nhị Thế Chiến. Tôi hoàn toàn đồng ý rằng ngoại giao thương thuyết vẫn có thể, và rất nên là con đường giải quyết các tranh chấp giữa các tập đoàn người, nhưng thử hỏi nếu mình không có thực lực thì ai buồn thương thuyết với mình làm gì?

Những con người phương Đông ở thế kỷ 19 không phải là không nhận thức được điểm “phú quốc cường binh” này. Trong những phong trào cải cách, canh tân để tự cường ở phương Đông cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, dù đi theo chiều hướng nào, thì vấn đề “cường binh” luôn là một vấn đề then chốt, mà sự cấp thiết phụ thuộc vào tình hình cụ thể của nước sở tại. Vấn đề sửa sang binh bị, canh tân quân đội đó là một trong bảy điểm lớn của của “Bách nhật duy tân” ở nước Thanh, được lặp đi lặp lại trong những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ và được cụ thể hóa một phần bởi những cải cách hải quân của Bùi Viện ở nước Nam, và hơn hết, được phát triển đến mức độ quá khích ở nước Nhật phong kiến và chuyển thành chủ nghĩa quân phiệt. Những cố gắng “cường binh” của những đầu óc tiến bộ đó ở cuối thế kỷ 19, dù thành công hay thất bại vì nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng quan niệm “cường binh” của họ chưa bao giờ là lỗi thời cả. Thế mà ngày nay, khi thế kỷ 21 đã khởi đầu, lại vẫn có những người lại cho việc tự cường là lạc hậu, cường binh là phản động, quả thật là không dễ giải thích…


(Pizarro bắt sống hoàng đế Inca ở Cajamarca)

6. Kết luận: Súng, vi trùng và thép

Trong bài viết ngắn này, tôi đã cố gắng giải thích rằng vấn đề phát kiến địa lý và trao đổi thông tin giữa các dân tộc cùng lắm chỉ có thể là một điều kiện, chứ tuyệt đối không phải là nguyên nhân đưa đến vấn đề thuộc địa và nô dịch ở phương Đông. Đồng ý rằng những tri thức về các quốc gia và xã hội phương Đông đã giúp cho người phương Tây hiểu phương Đông hơn, và từ đó có nhiều khả năng đánh bại người phương Đông hơn trong những tranh chấp thuộc địa và ảnh hưởng cuối thế kỷ 19. Nhưng như ở phần trên đã đề cập đến, phát kiến địa lý không những giúp cho phương Tây hiểu phương Đông hơn, mà cũng giúp cho phương Đông biết về phương Tây nhiều hơn. Nếu như quá trình trao đổi thông tin đã giúp cho phương Tây đánh giá đúng phương Đông, thì tại sao lại không giúp cho phương Đông đánh giá đúng phương Tây, để có thể tự cường hầu thoát khỏi nguy cơ bị tấn công, hoặc chí ít cũng có thể tự bảo vệ mình? Bảo người phương Đông kém cỏi là không đúng, vì như trên đã đề cập đến, người phương Đông cũng không kém người phương Tây về mặt học hỏi, và thực tế là những nhân vật lỗi lạc có cái nhìn hợp với thời cuộc đời nào cũng có. Điểm lại lịch sử Việt Nam, chúng ta cũng nhận thấy có không ít những nhân vật đã có cái nhìn đúng đắn về tương quan sức mạnh Đông – Tây, và mong muốn cải cách để tự cường dân tộc. Sự thất bại của mong muốn tự cường này chỉ có thể trách “cơ chế” (chú thích: đây là kẻ tội đồ muôn đời mà hiện nay Đảng ta cũng đang sử dụng để chối tội, cho dù hoàn toàn không có ý định cải tạo nó) xã hội phương Đông đó đã không thể thích nghi, cho dù những cá nhân tài giỏi có mong muốn cải cách để tự cường thì không thiếu. Dầu sao đi nữa, trong lịch sử đã có bao nhiêu dân tộc hùng cường rồi suy tàn, phát khởi rồi diệt vong? Việc hưng vong của các dân tộc, thịnh suy của các quốc gia chẳng khác nào phù vân thoảng qua trong đáy mắt mà thôi…

Thật ra mọi suy luận và diễn giải về lịch sử đã qua, dựa trên yếu tố con người, đều thường không thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn theo kiểu con gà và quả trứng. Luôn có một câu hỏi lớn hơn, bao trùm hơn đằng sau mỗi câu trả lời, và càng hỏi, càng trả lời, càng dấn sâu, càng đi xa thì cảm giác mênh mông rộng lớn khôn cùng của thế giới và tri thức lại càng đáng sợ. Dựa trên cùng một nền tảng lý luận ở trên, chắc chắn sẽ nảy ra những câu hỏi rộng hơn, xa hơn: Thế thì tại sao phương Tây lại đến phương Đông – để buôn bán, và sau đó là để xâm chiếm – mà không phải là ngược lại? Tại sao các “châu ấn thuyền” của Nhật Bản không dong buồm thẳng đến Cadiz để trực tiếp trao đổi sản vật phương Đông lấy bạc Tây Ban Nha như là họ đã làm ở Nam Dương? Tại sao các “dương châu” vĩ đại của Trung Hoa lại không đến tấn công các bờ biển trù phú của xứ Hòa Lan như là họ đã từng dương uy ở Ceylon? Rõ ràng là các thủy thủ Trung Hoa và Nhật Bản có khả năng vượt biển không hề thua kém người Tây phương, và nếu họ đã đến được tận Madagascar thì việc đến tận châu Âu không có gì là bất khả. Phải chăng bản tính người phương Đông, được đạo thánh hiền giáo dưỡng nên yêu hòa bình, không tham lam và hiếu chiến bằng lũ sói biển phương Tây? Điều này rõ ràng là không đúng, như đã phân tích ở phần trên, người phương Đông cũng không kém người phương Tây về mặt hiếu chiến… Vậy thì điều gì đã ngăn cản những châu ấn thuyền đến buôn bán ở phương Tây và những dương châu đến tấn công châu Âu? Về vấn đề này, thật ra Jared Diamond, trong quyển “Súng, vi trùng và thép”, đã cung cấp một câu trả lời tương đối rốt ráo theo kiểu lần đến tận đầu mối vấn đề mà tôi hầu như bị thuyết phục (cho dù không phải hoàn toàn). Nhưng xin hãy để dành vấn đề này cho một dịp khác vậy.

2008/08

Long live Russia

Photobucket

Let’s start with a vexillological issue: the flag of Georgia is among the national flags that I am really fond of: the combination of those lovely red crosslets that claim their origin from the Crusaders’ Kingdom of Jerusalem around a large Saint George’s cross in red helps create an impression of antique dignity – as well as of exotic fantasy — on the pure white background. Their war flag is even more impressive, in which reversed colors are defaced by the shield and crown of the Ministry of Defence. They must be so proud, those Georgian soldiers who appeared on television those day, to stand and fight under such a beautiful class.

My fondness to the Georgian national flag, however, does not prevent me from acknowledging the fact that such a breach of trust – like one committed by the leaders of Georgia – is hardly able to be forgiven so easily, and that Russia, as a world power, absolutely possess the right to take retaliation as well as to counter the aggression from their enemy – by violent means if needed – in order to protect her citizens (it is estimated that 90% of the inhabitants of South Ossetia had been applied for, and had been granted, Russian passports). Observers from an anti-Russian viewpoint may consider Russia’s sharp reaction rather harsher than necessary, but from my point of view, it is not only necessary but also absolutely justified.

As I have stated in previous entries, submission and concession have never been and will never be the solution for a permanent peace; all they can bring is a short period of temporary truce plus an illusion of peace (remember Chamberlain’s ironically infamous speech “Peace in our time”?). In other to maintain a true, perpetual peace, one not only need to have the power to protect his legitimate rights but also need to show other people that he really has that power. Proof needed? Let me remind you this: during the Lebanon conflict of 2006, Hezbollah’s leaders admitted that would they predicted the reaction from Israel had been that harsh, they would not have dared to abduct two Israeli soldiers on patrol. In this Caucasus conflict, I believe that Russia also have to bear part of the responsibility: although strong enough and willing to protect her rights, perhaps she had failed to show the world her might and will, which likely to have led to Georgian political and military leaders’ underestimation of Russia’s reaction against their unprovoked aggression towards South Ossetia. Fortunately the leaders of Russia seem to have realized that mistake – and they are trying hard to redeem it by having a really impressive show of force in the South Caucasus, using this incident in South Ossetia as a great opportunity.

Here is but a note to commemorate that conflict, one of the few military conflicts with I am really interested in since the Lebanon War in 2006. I should have been completed this short note in Friday, and this delay was due to instinctive idleness. Another entry on explorers, missionaries, merchants and conquerors is coming soon…

2008/08/10

Về giá gạo

1.
Mấy ngày gần đây tôi đọc báo thấy nói về chuyện lương thực tăng giá. Hôm nay ra chợ mới biết giá gạo đã tăng gấp đôi rồi đấy. Một nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới mà lâm vào tình trạng khan hiếm (khan hiếm, chứ không phải thiếu hụt) gạo thì hẳn là vấn đề đã có phần trầm trọng.

Nhưng rõ ràng là lúa gạo năm nay trúng mùa kia mà! Những hợp đồng xuất khẩu gạo của năm nay vẫn còn sờ sờ, những nhà xuất khẩu gạo hoàn toàn không có dự định phá vỡ hợp đồng. Như thế cũng đủ thấy rằng sự khan hiếm gạo này rõ ràng không phải do thiếu hụt. Còn nguyên nhân đích thực của việc tăng giá gạo là gì thì có phần phức tạp hơn, do đầu cơ hay do tổng hợp những nguyên nhân khác, nhưng chắc chắn không phải do thiếu gạo.

Giá gạo tăng đánh vào người nghèo trước tiên: những người phải chạy ăn từng bữa, nhà không có lon gạo dư, kiếm được bữa nào đong bữa ấy, thì không thể không đong gạo, bất kể giá cả cao đến trời. Người ta có thể không ăn mà sống ư?

Người giàu hẳn nhiên là chẳng cần phải bận tâm về vấn đề gạo muối làm chi. ngay cả trong thời kỳ đại khủng hoảng cũng thế thôi. Giới trung lưu thì thực ra cũng không cần phải lo lắng cho lắm, có lẽ hiện tượng đổ xô đi mua gạo về tích trữ chỉ là một biểu hiện của tâm lý bầy đàn của người Việt hơn là do sự thiếu hụt lương thực trước mắt thúc đẩy. Thực ra việc đổ xô đi mua gạo, đối với những gia đình không phải chạy ăn từng bữa, là hoàn toàn không cần thiết. Vả lại, tình trạng làm giá này có lẽ sẽ khó mà kéo dài, vì tôi cho rằng chính quyền sẽ nhanh chóng can thiệp.

2.
Đã từ lâu tôi vốn không có một chút niềm tin nào vào đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh mà không chói lóa cùng với cái chế độ của nó (để mà giảm sút hay đánh mất). Nhưng trong vấn đề lương thực thì tôi dám chắc rằng chính quyền sẽ can thiệp để cứu vãn tình thế, chống tình trạng đầu cơ, làm hạ nhiệt giá lương thực.

Tác động của suy thoái kinh tế nếu đánh vào xăng dầu, lãi suất, chứng khoán, tuy gây ra những xáo trộn không nhỏ, nhưng ít ra còn không đáng sợ bằng, bởi tầng lớp trung lưu ở Việt Nam hiện nay vừa ít lại vừa hèn, quả thật không đáng nói tới. Nhưng những thứ liên quan đến miếng ăn của đại đa số người dân bần cùng ở nước ta thì không thể coi là chuyện đùa được.

Dẫu các cán bộ quen nhai xương hút máu của đảng ta không phải là bậc “vương giả dĩ dân vi thiên” thì cũng không đến nỗi hôn ám đến mức không hiểu đạo lý “dân dĩ thực vi thiên”, ít ra là từ kinh nghiệm cướp chính quyền của bản thân họ. Họ sẽ phải giải quyết vấn đề giá cả lương thực, đặc biệt là giá gạo, càng nhanh càng tốt, và bằng “bất kỳ thủ đoạn nào”, dẫu đúng hoặc sai, dẫu hay hoặc dở, để ổn định lòng dân. Nếu không thì sẽ lại có cảnh đi phá kho thóc xuất khẩu như hồi 1945 cũng nên…

3.
Trong khi chờ đợi xem chính quyền của đảng Cộng Sản Việt Nam danh lừng vũ trụ, đức sánh cửu thiên, cổ kim hiếm có sẽ đưa ra những biện pháp gì để bình ổn giá lương thực, đẩy lùi vấn nạn đầu cơ (có lẽ không lâu lắm) thì tôi đành tạm lót dạ bằng vài món bình dân như tôm hùm, vi cá, hải sâm, vân vân (đa phần những món vừa kể lại giảm giá mới lạ chứ), cho qua thời kỳ gạo muối đắt đỏ này.

P/s: Viết hôm qua mà lười không đăng ngay. Đúng là cái tính lười nhác của tôi không phù hợp với nghề nhà báo thật :) Giả sử bài này đăng lên blog hôm qua thì còn hợp lẽ, nhưng hôm nay thì đã nguội mất rồi…

2008/04/27

Posted in Politics. Tags: . Leave a Comment »

Huy hiệu Đoàn

Vì tổ quốc Xã hội chủ nghĩa, vì lý tưởng của bác Hồ vĩ đại, sẵn sàng!

Đi lên thanh niên, chớ ngượng ngùng chi,
Đi lên thanh niên, làm theo lời Bác:
- Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không hèn.
Nhường núi và cắt biển, nhất trí ắt làm nên.

Indochina in 2050 – a fantasy

 

Map of INDOCHINA in 2050
© 2007 Tristesse, Nguyen M.T.

 

The Empire of Annam

As a result of the distratrous Great Indochina War, the Empire of Annam lost a dozen of its northernmost provinces to China. In the other hands, she was compensated by the consolidation of its control on most of the former Laotian and Cambodian’s terrritories, which had been annexed before the war. Annam also renounced her claims of the Paracel and Spratly Islands in exchange for China’s recognition of Annamese hegemony over the statelets of Luang Phrabang and Angkor.

The official capital of Annam is Tống Bình, also called the Upper Capital (Thượng Kinh). The legislative branch, however, assembles in Sài Gòn, the Lower Capital (Hạ Kinh). The Middle Capital (Trung Kinh) of Hue is the seat of the emperor, as well as the resident of the Imperial Family. The emperor of Annam descended from Prince Cảnh, the senior branch of the House of Nguyễn Phúc. As a constitutional emperor, he does not possess much political power, but is highly respected by the people due to his commitments to the country during the war. It was his superb diplomatic skills in the Peace of Shanghai that did not only save Annam from total humiliation, but also help to greatly expand the country’s territory.

Other political entities

The Principality of Luang Phrabang controls the territory of the former Kingdom of Luang Phrabang, plus some small provinces near the Burmese border. The Prince of Luang Phrabang rules his principality as a vassal of Annam; he by any mean does not originates from the former Laotian royal house, but is from the house of Tôn Thất, a cadet branch of the Imperial House of Nguyễn Phúc. That special relationship means that Luang Phrabang, a separate state de jure, is de facto annexed by Annam.

The Duchy of Angkor, another vassal state of the Empire of Annam, is reigned by the House of Sisowath after the last Norodom king was deposed by the Annamese. In addition to the remnants of Cambodia, this rump state also annexes, of course with the consent from Annam, the Champasak territory west of the Mekong river. The Sisowath Duke rules from the city of Siam Reap, which was renamed New Angkor.

The Kingdom of Siam has restored the ancient provinces of Mergui and Tenasserim from the Burmese during the Siamese-Burmese War. The Siamese also succeeded in quelling Malay rebellions in the peninsula, and they are able to conclude a final treaty with Malaya concerning the Malay population in the Siamese kingdom.

The Holy Sinic Empire (HSE), formerly China, exercises sovereignty on the islands of Hainan and the smaller archipelagos in the South Sea, including the Pratas, Paracel, and Spratly Islands as well as the Macclesfield Bank, all of those are not shown in the map. The Jinlan (Cam Ranh) Peninsula was permanently ceded by Annam, and the Jinlan Military Base, the most important HSE facility in the South Sea, is located there.

Burma, at the top left corner of the map, became a protectorate of the Holy Sinic Empire after its defeat in the hand of Siam.

Conclusion

I just invented all those ridiculous stuff in a melancholic night. Of course I believe that you don’t take it seriously… :D

2007/12/16