Maid of Athens, a translation

George Gordon Byron là một thi sĩ Anh Cát Lợi và là một nhà ái quốc Hy Lạp sống vào đầu thế kỷ 19. Có lẽ nhiều người sẽ lấy làm lạ rằng một quý tộc Anh quốc làm sao lại là một nhà ái quốc Hy Lạp được; nhưng thực ra chuyện ấy có gì đáng lạ lùng đâu. Con người không chọn quê hương tổ quốc cho mình, mà trái tim khao khát tự do của người thi sĩ lãng mạn kiểu Byron làm sao có thể bị trói buộc vào những quy định yêu cầu cứng nhắc của một xã hội bảo thủ được. Huống chi tình yêu của Byron dành cho nước Hy Lạp đâu có nghĩa là chàng không yêu tổ quốc của mình? Và thật sự là Byron, một người mà lối sống buông thả trụy lạc không làm vừa lòng xã hội bảo thủ đương thời, đã làm vinh danh tổ quốc mình ở một phương trời xa thẳm nơi những người dân đặt tên con mình là Viron (là Byron trong tiếng Hy Lạp) để tưởng nhớ chàng, và tình cảm nồng nàn của chàng dành cho lý tưởng độc lập của dân tộc Hy Lạp càng khiến cho Anh quốc tự hào về đứa con tài hoa mà hoang đàng của mình.

Bài thơ “Thiếu nữ Athen” được viết năm 1810, khi ấy Byron mới là một chàng trai hai mươi hai tuổi, phiêu bạt qua những xứ sở phương Đông, và phải lòng đất nước Hy Lạp tươi đẹp mà nghèo nàn đang rên xiết dưới ách thống trị gần bốn trăm năm của đế chế Ottoman. Chàng trú trong nhà bà quả phụ Makri, người có ba cô con gái xinh đẹp tuyệt vời, và nàng Teresa khi ấy tuổi mới chừng mười bốn (nhưng chớ quên vào tuổi đó thì nàng Giulietta thành Verona đã chuẩn bị lấy chồng rồi). Người ta nói Philhellenism là tình yêu dành cho một lý tưởng chứ không hẳn là dành cho một đất nước, nhưng tôi khó mà tin được rằng Byron không thật sự yêu mến đất nước và dân tộc này, bởi bài thơ được viết rất lâu trước khi cuộc chiến tranh độc lập nổ ra ở Hy Lạp, càng trước khi Byron tham gia vào cuộc chiến tranh thần thánh và chết ở đây, giữa những người Hy Lạp. Hy Lạp là một đất nước mà đến tôi cũng phải yêu nữa là Byron, và vẻ đẹp tuyệt trần của những cô gái Hy Lạp còn đủ làm xao xuyến trái tim khô lạnh của tôi nữa là cõi lòng nồng cháy của Byron!

o0o

Thiếu nữ Athen, trong phút biệt
Xin em trao trả trái tim tôi!
Nếu trái tim rời khỏi ngực rồi
Hãy nhận cả xác hồn trọn vẹn
Cho tôi gửi lại câu thề hẹn:
Zoi mou sas agapo

Thề với món tóc mây lơi lả
Bay tung trong gió biển Ege
Ren hạt huyền khăn rủ nét mi
Se sẽ chạm ửng hồng má thắm
Với đôi mắt nai tơ thăm thẳm:
Zoi mou sas agapo.

Thề với đôi môi tôi khao khát
Với eo thon vừa vặn vòng ôm
Với dấu hoa ngầm ý chứa chan
Những tình tứ muôn lời khôn giãi
Với cay đắng ngọt bùi tình ái:
Zoi mou sas agapo.

Thiếu nữ Athen, tôi đi nhé
Đừng quên tôi! Những lúc cô đơn
Dẫu tôi xa tận Istambol
Athen mãi ở trong tâm trí
Liệu tôi có quên em? Không thể!
Zoi mou sas agapo.

Byron
(Tryst dịch xong ngày 2007/10/25)

Thơ xuân của bạn tôi

Mùa xuân

Mùa xuân chắc cũng đã về rồi
Một mình hai ly rượu song đôi
Một nửa bóng xuân qua cửa sổ
Một nửa chôn vùi chốn xa xôi.

Ta tự trách mình sao bất lực
Giữa cuộc đời vất vả bon chen
Chẳng thể giang tay ra giúp đỡ
Người đi mắt ướt lệ ta hoen.

Mùa xuân lại đến có vui không?
Chị đang tìm lấy một tấm chồng
Kẻo rồi ba mùa xuân nắng gió
Sẽ hết môi son với má hồng…

Bất Giới

o0o

Vẻ đẹp tươi tắn của mùa xuân thật không gì sánh được, khi cỏ hoa đua nở, đất trời tươi thắm, khi con người và vũ trụ cùng giao hòa trong nguồn sống dạt dào của năm mới. Mùa xuân cũng là lúc con người cởi mở tấm lòng của mình với những người thân thiết xung quanh. Vì thế, khi nhắc đến mùa xuân, người ta dễ dàng nghĩ đến những tiếng cười tiếng nói, những câu đối đỏ bánh chưng xanh, và nhất là niềm vui sum họp.

Nhưng cũng chẳng thiếu gì những con người lạc lõng giữa đất trời vũ trụ. Mùa xuân đến, họ đã chẳng vui thì chớ, lại càng thêm ảo não âu sầu mà thốt lên: “Tôi có chờ đâu, có đợi đâu: đem chi xuân lại gợi thêm sầu?” Họ chẳng cảm nhận được vẻ đẹp của mùa xuân thiên nhiên, cũng chẳng được hưởng niềm vui xuân của con người. Khốn khổ thay cho họ! Khi đọc bài thơ “Mùa xuân” của nhà thơ Bất Giới, tôi chợt nhận ra nhà thơ đúng là một người như vậy…

Cảm giác mơ hồ lạc lõng đó của tâm hồn đã xuất hiện ngay ở mở đầu bài thơ, khi nhà thơ viết:

Mùa xuân chắc cũng đã về rồi.

Mùa xuân không phải “sắp về”, nhưng mà “đã về” đây, đang rõ ràng hiện diện, lặng lẽ thấm đượm trong trời đất Hà thành ngày giáp tết. Nhưng sao nhà thơ lại viết: “mùa xuân chắc cũng đã về rồi”? Lẽ nào nhà thơ không chắc chắn về sự hiện diện của mùa xuân quanh mình? Nhà thơ may ra chỉ có thể cảm nhận được mùa xuân qua sự nhạy cảm của tâm hồn thơ, qua những rung động khi giao hòa cùng trời đất. Mùa xuân dường như không hiện diện bên ngoài tâm hồn nhà thơ. Phố phường vẫn nhộn nhịp như mọi ngày, nhân gian vẫn cát bụi bon chen, vẫn đầy những vui buồn thường nhật, chẳng có dấu hiệu gì báo cho nhà thơ biết là mùa xuân đã đến. Mà nếu có một dấu hiệu nào đó, chắc gì nhà thơ đã nhận ra? Nhà thơ đang vùi cõi lòng mình vào trong những nỗi niềm, tâm sự riêng.

Mùa xuân chắc cũng đã về rồi
Một mình hai ly rượu song đôi
Một nửa bóng xuân qua cửa sổ
Một nửa chôn vùi chốn xa xôi.

Khi cõi lòng u uất, con người, nhất là những nhà thơ, thường lấy rượu để giải nỗi muộn phiền. Những nhà thơ kế thừa di phong của Lý Thái Bạch “cao ngâm đại túy tam thiên thủ” như Bất Giới tiên sinh lại càng mê rượu hơn. Chén rượu của Bất Giới tiên sinh ở đây không chỉ đơn thuần là chén rượu giải phiền, mà còn là chén rượu đón xuân. Nhà thơ đã giải thích việc uống rượu bằng lý lẽ: “mùa xuân chắc cũng đã về rồi”. Xuân về thì có rượu đón xuân, cũng như xuân đi thì có rượu tiễn xuân – những nhà thơ mê rượu luôn có những lý lẽ nhằm giải thích cho việc uống rượu quanh năm suốt tháng của mình. Nhưng cách uống rượu của Bất Giới tiên sinh thật bất thường:

Một mình hai ly rượu song đôi.

Câu thơ đầu tiên đã bất thường, câu thơ thứ hai đọc lên lại càng bất thường. Lý Thái Bạch dù phóng khoáng ngút trời cũng chỉ dám “cử bôi dữ minh nguyệt, đối ảnh thành tam nhân”, nghĩa là chung quy chỉ một mình một chén. Còn Bất Giới tiên sinh uống rượu giữa mùa xuân về, lại một mình rót những hai ly rượu! Người đọc sẽ thắc mắc tự hỏi: ly rượu thứ nhất nếu dành cho nhà thơ, thì chẳng biết ly rượu thứ hai dành cho ai? Có phải nhà thơ rót sẵn hai ly rượu để chờ ai đó đến cùng đối ẩm chăng? Nếu quả thực như vậy thì người mà nhà thơ đang ngóng đợi hẳn phải là một người rất thân quen đối với nhà thơ, vì hai ly rượu ấy không phải là hai ly rượu bất kỳ, mà là hai ly rượu “song đôi”. Hai chữ “song đôi” gợi lên một hình ảnh tròn đầy toàn vẹn theo truyền thống. Người đối ẩm với nhà thơ có phải chăng là một tri âm bằng hữu, hay là một tri kỷ hồng nhan? Và người ấy ở đâu bây giờ, sao không đến đối ẩm cùng nhà thơ, khiến cho nhà thơ phải một mình đối diện với hai ly rượu song đôi? Hình ảnh “một mình” và hình ảnh “hai ly rượu song đôi” được đặt liền bên cạnh nhau tạo ra một sự đối lập mạnh mẽ. Người đọc có thể cảm nhận được sự tương phản giữa một bên là hình ảnh đoàn viên toàn vẹn của hai ly rượu song đôi, còn một bên là sự lẻ loi cô quạnh của nhà thơ, con người đang một mình cô độc ngồi nhìn hai ly rượu. Quả thật, lời thơ có nhắc đến “ly rượu” nhưng không hề nhắc đến việc uống rượu, khiến cho người đọc hình dung ra khung cảnh nhà thơ ngồi ngẩn ngơ trước hai ly rượu mà không nỡ nhấp môi. Bao nhiêu nhà thơ đã từng như Phạm Hy Văn, uống rượu mà than thở: “tửu nhập sầu trương, hóa tác tương tư lệ”. Còn Bất Giới tiên sinh chưa kịp nhấp một giọt rượu nào mà trong lòng đã thấm thía đắng cay rồi. Như thế thì còn gì là uống rượu mừng xuân nữa?

Một nửa bóng xuân qua cửa sổ
Một nửa chôn vùi chốn xa xôi.

Cái cảm giác ngỡ ngàng lẻ loi của nhà thơ từ câu thơ thứ hai lại chuyển xuống hai câu thơ kế tiếp, không giảm bớt chút nào. Hai chén rượu thành đôi thành cặp, còn nhà thơ thì lẻ loi một mình, việc ấy cũng đã đành. Đến mùa xuân đang về cũng không còn toàn vẹn, mà phân thành hai nửa chia ly, phải hiểu ra sao đây? Có phải một nửa của mùa xuân đã đi theo bóng người nhà thơ đang thương đang nhớ, khiến cho còn lại đây, bên khung cửa này, chỉ có một nửa mùa xuân? Không phải là mùa xuân ra đi đâu, ấy chính là một nửa con người, nửa tâm hồn của nhà thơ đã gửi theo bóng hình thăm thẳm ở tận “chốn xa xôi”. Nếu hình ảnh “một” đặt bên cạnh hình ảnh “song đôi” tạo ra cảm giác lẻ loi vô cùng, thì hình ảnh của nửa mùa xuân ấy càng khiến ta cảm thấy cô độc thiếu thốn đến đâu?

Nếu có ai lạc quan đã vội mừng cho nhà thơ vẫn còn giữ được một nửa mùa xuân, một nửa tâm hồn, ấy là người ấy hơi mừng vội. Một nửa mùa xuân ở lại, chắc là nhà thơ chẳng cảm nhận được bao nhiêu, bởi vì nửa mùa xuân ấy cũng đã vụt qua nhanh như bóng câu bên cửa. Nhân sinh như mộng! Mùa xuân vẫn dào dạt quanh đây, thế mà đối với nhà thơ, nửa mùa xuân ấy thoắt trôi qua chẳng còn gì, có khác nào như mùa xuân trong câu hát “Mộc lan hoa mạn” đời xưa:

Toán xuân sắc tam phân
Bán tùy lưu thủy, bán nhập trần ai.

Thật sự thì cái mà nhà thơ thiếu không phải là mùa xuân. Nhà thơ chỉ lấy mùa xuân ra làm bung xung để che giấu sự thiếu thốn thật sự trong lòng: đó là một sự đồng cảm, một người đồng cảm. Sự đồng cảm giữa hai tâm hồn chính là mùa xuân của cuộc đời, mà thiếu nó thì cuộc đời dường như không còn niềm vui, ý nghĩa. Phải chăng con người ai cũng mải miết đi tìm một tâm hồn đồng cảm, mà đã mấy ai tìm được? Nhưng nỗi đau khổ bất hạnh của nhà thơ còn lớn gấp bội lần những tâm hồn đơn lẻ đó, vì dường như nhà thơ đã tìm thấy được một nửa tâm hồn của mình, nhưng rồi lại để mất!

Ta tự trách mình sao bất lực
Giữa cuộc đời vất vả bon chen
Chẳng thể giang tay ra giúp đỡ
Người đi mắt ướt lệ ta hoen.

Trong khổ thơ thứ hai ấy, nhà thơ đã nói lên tình cảnh của mình với một sự chuyển ý đột ngột, ít có mối liên hệ về ý với khổ thơ trước. Đó là một lời tự trách, bởi khi sử dụng đại từ “ta”, nhà thơ đang tự nói với riêng mình, và có lẽ cũng chẳng quan tâm gì đến xung quanh. Dường như xúc cảm đó cũng chỉ đột ngột bật ra trong khi nhà thơ đang ngồi giữa mùa xuân hoang vắng, lẻ loi ngắm hai ly rượu song đôi, và thấm thía được nỗi đau riêng mình; điều đó giải thích vì sao luồng thơ đột ngột chuyển ý mà không hề có dấu hiệu báo trước.

Ta tự trách mình sao bất lực
Giữa cuộc đời vất vả bon chen
Chẳng thể giang tay ra giúp đỡ

Trái với mật độ hình ảnh ý nghĩa dày đặc trong khổ thơ đầu, những câu thơ này lại có vẻ như loãng quá, suông quá, cứ trôi đi không biết có để lại chút gì. Đọc lên, những dòng thơ đi liền một mạch, dường như đó chỉ là một câu khẩu ngữ thông thường, nhẹ nhàng, hợp âm luật, nhưng lại nhạt nhòa như làn gió thoảng. Vâng, đó chỉ là một làn gió, đúng hơn là một dòng suy nghĩ trôi qua tâm trí âu sầu của nhà thơ, không hoa hòe, điệu đàng như một thiếu nữ thời Heian, cũng chẳng thẹn thò ẩn nấp sau những thủ pháp nghệ thuật. Nhưng nhờ thế, đó lại là những suy nghĩ chân thật, xuất phát trực tiếp từ trong tâm khảm, bởi những cảm xúc trực tiếp nhất luôn mang nét đơn giản bình dị của con người bình thường.

Trong những câu thơ ấy không có nhắc đến sự mất mát tình cảm mà nhà thơ đang cảm nhận. Nếu những câu thơ là những dòng suy tưởng tự do, thì việc đề cập đến nỗi mất mát đó là không cần thiết đối với nhà thơ. Điều đó hẳn chỉ có lợi cho chúng ta, những người đọc đang muốn phân tích tâm trạng của nhà thơ; nhưng nhà thơ nào có quan tâm gì đến người đọc! Suốt cả bài thơ, nhà thơ chẳng quan tâm đến chuyện gì khác, cả mùa xuân lẫn thế giới ngoại quan. Nhà thơ chỉ chìm đắm trong nỗi niềm riêng của mình thôi. Nhà thơ đang tự trách mình đã không có đủ khả năng chống chọi lại những xô đẩy vùi dập của cuộc đời, để giữ lại một tâm hồn tri kỷ. Khi trách mình “Chẳng thể giang tay ra giúp đỡ”, hẳn là nhà thơ cho rằng trong một hoàn cảnh nhất định, nếu mình tích cực hơn, chủ động hơn, thì có thể thay đổi được sự thật chăng? Mà cũng không hẳn là nhà thơ tự trách mình tất cả, khi người lại đổ lỗi cho “cuộc đời vất vả bon chen” làm nguyên nhân chính của nỗi biệt ly. Nhà thơ đáng thương! Dù sao người cũng không thể hết cảm thấy hối hận day dứt vì đã không chủ động hơn, mạnh mẽ hơn để chống lại dòng trôi cuộc đời. Nỗi day dứt đó cuối cùng đã bộc phát ra thành những giọt nước mắt tuy lặng lẽ nhưng chan chứa đắng cay.

Câu thơ “Người đi mắt ướt lệ ta hoen” ấy nằm cuối khổ thơ, và có vẻ như đứng một mình lạc lõng, không gắn kết gì với ba câu thơ còn lại trong khổ. Điều này có thể là do câu thơ cuối mang nhiều nét thi vị rõ ràng hơn các câu trước, và cũng có thể là do sự đứt quãng trong dòng suy tưởng. Nhưng chính câu thơ ấy lại là cao điểm của khổ thơ, nơi những xúc cảm tích tụ đã thể hiện bằng những dòng nước mắt của chính nhà thơ.

Khi đọc câu thơ lẻ loi ấy, người đọc có thể hiểu: cả người đi lẫn người ở lại đều hoen lệ. Nhưng với cấu trúc lấp lửng, câu thơ cũng có thể được ngầm hiểu rằng: nước mắt của nhà thơ đang hoen ướt trên đôi mắt của người ra đi! Phải chăng điều đó biểu sự khắng khít tiến đến hiệp nhất của hai tâm hồn đồng cảm? Hỡi ôi! Hiểu câu thơ như thế nào, đối với nhà thơ cũng không còn quan trọng nữa, khi mà tâm hồn ấy đã bỏ nhà thơ mà ra đi. Mà không, không phải người ấy bỏ nhà thơ đâu. Rõ ràng nhà thơ không hề muốn và cũng không thể trách móc người ấy vì đã gây ra nỗi đau trong lòng mình. Đó là do cuộc đời đã cuốn người ấy đi xa khỏi nhà thơ, mà nhà thơ lại bất lực không thể đưa tay ra níu lại… Ấy, nhà thơ trách mình, nhà thơ trách đời, chứ đối với người ấy, nhà thơ luôn thể hiện một nỗi niềm trân trọng và thông cảm sâu xa…

Nhưng việc chia ly đã diễn ra trong quá khứ, còn hiện tại, nhà thơ đang lẻ loi một mình trong nỗi u hoài. Những giọt lệ của người ra đi không biết đã khô chưa, còn những giọt lệ của nhà thơ mãi đến bây giờ vẫn còn ướt hoen khóe mắt. Có lẽ những giọt lệ của nhà thơ vẫn còn hoen đôi mắt từ khi người ấy ra đi đến mãi bây giờ. Mắt ướt, lệ hoen, tất cả là những biểu hiện của một xúc cảm kín đáo, nhẹ nhàng. Nhưng sự kín đáo nhẹ nhàng đó làm sao che giấu được những chất chứa vô vàn trong lòng nhà thơ? Không còn nghi ngờ gì nữa, đây chính là câu thơ hay nhất của bài thơ, là đỉnh cao cảm xúc của nhà thơ.

Từ trên đỉnh cao ấy, nhà thơ lại rơi xuống, bằng một sự đứt đoạn, chuyển ý đột ngột nữa, dưới tác động của dòng suy tưởng:

Mùa xuân lại đến có vui không?
Chị đang tìm lấy một tấm chồng
Kẻo rồi ba mùa xuân nắng gió
Sẽ hết môi son với má hồng…

Cũng nên nhắc ngay rằng không phải là nhà thơ cuối cùng đã nhận ra sự hiện diện của mùa xuân đâu. “Mùa xuân lại đến có vui không?” là một câu hỏi, những cũng khó biết được nhà thơ đang hỏi ai. Nếu theo dòng suy tưởng mà xem xét, thì có lẽ nhà thơ đang đặt câu hỏi cho chính mình. Nhưng biết đâu nhà thơ đang hỏi thăm về người ở xa, hoặc cũng có thể nhà thơ chỉ thốt lên bâng quơ chẳng để hỏi ai…

Chị đang tìm lấy một tấm chồng
Kẻo rồi ba mùa xuân nắng gió
Sẽ hết môi son với má hồng…

Còn có một cách hiểu nữa, đó là nhà thơ đang tự khuyên nhủ lòng mình phải vui lên. Lý do mà nhà thơ đưa ra để vui sống là vì mùa xuân đã trở về. Thật là tự huyễn hoặc mình đấy! Nhà thơ vốn chẳng biết đến sự hiện diện mùa xuân đâu. Nếu quả thực mùa xuân là biểu tượng của tâm hồn đồng cảm, của người đã đi xa khuất, thì lý do thực sự mà nhà thơ tự khuyên mình nên vui lên là vì hạnh phúc của người ấy. Hỡi ôi! Nhà thơ dường như vẫn còn tự huyễn hoặc mình! Những câu thơ mang mùi vị chua chát nhẹ nhàng của phong thái đau thương “có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…” lại là những câu thơ vui thế nào được?

Thì ra người ấy đi lấy chồng! Người ấy không biết có phải là chị của nhà thơ thật hay không. Nhà thơ gọi người ấy là “chị”, có lẽ để tránh sự hiểu lầm, kẻo một độc giả nào đó cắc cớ lại cho rằng người ấy là người yêu của nhà thơ. Dụng ý của nhà thơ khá rõ: người muốn tách biệt tình cảm lưu luyến đơn thuần giữa hai người tri kỷ ra khỏi những tình cảm khác như tình cảm luyến ái nam nữ, vốn có thể làm biến chất tình cảm gốc. Tình cảm của nhà thơ không phải là của một người bị phụ tình. Ngược lại, người rất đỗi thương cảm và thông cảm với người chị ấy.

Kẻo rồi ba mùa xuân nắng gió
Sẽ hết môi son với má hồng…

Lại một cảm nhận về sự vô thường của tạo vật, của cái đẹp! Có người hẳn sẽ nghĩ nhà thơ là một người thấu hiểu lẽ biến suy của Phật pháp. Quả thật Bất Giới tiên sinh là một vị cao tăng, nhưng có lẽ người chưa đạt đến mức đắc đạo hoàn toàn, vì vẫn còn muốn níu kéo những gì đã qua. “Kẻo rồi ba mùa xuân nắng gió, sẽ hết môi son với má hồng…” Hai câu thơ đọc lên, tuy có ít nhiều thông cảm, nhưng vẫn như một nỗi niềm luyến tiếc khôn nguôi.

Người ấy cũng như nhà thơ, cả hai người đều đã không cưỡng lại được dòng trôi của thời gian, của cuộc đời. Hình ảnh “cuộc đời vất vả bon chen” mà nhà thơ phải gánh chịu, với hình ảnh “ba mùa xuân nắng gió”, phải chăng cũng là một mà thôi? Ở điểm này, có lẽ hình ảnh “ba mùa xuân nắng gió” đã khiến cho người đọc phải suy tư thắc mắc. Con số ba, một con số rất thơ, tượng trưng cho số nhiều, chi tiết này có thể hiểu được. Nhưng còn “mùa xuân” sao lại đi liền với “nắng gió”, một mùa tươi đẹp sao lại gắn liền với gió bụi cuộc đời vốn làm cho con người tàn tạ? Có phải vì mỗi mùa xuân sang, tuy tươi đẹp thật (tươi đẹp khách quan, chứ đối với nhà thơ thì mùa xuân cũng thú vị gì đâu) nhưng cũng là dấu hiệu thời gian trôi đi, con người già đi, sự vật qua đi… Đó là sự đổi thay mang tính quy luật, sự chóng qua của cái đẹp, của cuộc đời mà không ai có thể ngăn lại được. Nhưng chính nhà thơ, một vị cao tăng thông hiểu Phật pháp, sao lại không muốn hiểu chân lý khách quan này? Đối với nhà thơ, vẻ đẹp môi son má hồng phải nhạt phai suy tàn là do những nắng gió của cuộc đời, chứ không phải là do thời gian trôi qua khôn níu lại… Thật là cố chấp! Những trong sự cố chấp ấy là cả một khát khao, ước vọng muốn cưỡng lại sự vô thường của nhân thế, một ước vọng điên cuồng và chắc chắn sẽ đưa đến thất bại (vì xưa nay có ai thành công đâu?) nhưng ước vọng ấy chẳng thật đẹp hay sao, và người có khát khao ước vọng ấy chẳng đáng thương cảm vô cùng hay sao? Có lẽ vì nhà thơ đã thể hiện những khát khao thầm kín của con người hộ cho mỗi chúng ta, những người lẽ ra cũng có những khát khao như thế, nếu như không bị sự cam chịu và an phận tầm thường phủ lấp.

Liệu đã đến lúc đưa ra một kết luận chung về toàn bài thơ? Trong khi khổ thơ đầu là một cảm nhận riêng tư, thì hai khổ thơ sau lại là hoàn cảnh độc thoại, và riêng khổ thơ thứ ba lại mang nhiều chất bâng khuâng xa vắng hơn là khổ thơ thứ hai vốn đầy day dứt khổ đau. Trong khi phần đầu bài thơ trĩu nặng ý tưởng thì phần cuối lại ơ hờ lỏng lẻo. Ba khổ thơ của bài thơ có vẻ như khá rời rạc, không có chất kết dính với nhau bằng những biện pháp tu từ cũng như bằng ý thơ. Nhưng người đọc cũng nên thông cảm cho hoàn cảnh của Bất Giới tiên sinh: trong những tâm trạng rối bời, hoang mang ấy, cũng khó có người nào có thể nói năng một cách rõ ràng và lưu loát như đọc diễn văn. Ít ra nhà thơ cũng đã cố gắng sử dụng một thứ ngôn ngữ đơn giản dễ hiểu, gần với khẩu ngữ, để diễn tả chân thực nhất nỗi lòng của mình.

Nỗi lòng của nhà thơ là một sự bế tắc trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa sự hữu hạn của con người và sự đổi thay không thể cưỡng lại của vạn vật. Do đó, ảnh hưởng của bài thơ có phần tiêu cực, nhưng có mấy ai lại không có một chút bi quan tiêu cực như thế? Điều quan trọng là những tình cảm ấy hoàn toàn là những phản ánh chân thực và chính xác từ trong cõi lòng nhà thơ. “Tưởng kẻ viết là một nhà văn, không ngờ lại được gặp một người” (Pascal). Việc sử dụng ngôn từ để diễn tả một cách hiệu quả nhất cõi lòng con người không phải là mục đích tối thượng của thơ ca hay sao? Nếu xét theo khía cạnh đó, thì mặc dù còn nhiều khiếm khuyết, nhưng “Mùa xuân” có thể coi là một bài thơ hay, với những day dứt vẫn còn đeo đuổi người đọc mãi:

Người đi mắt ướt lệ ta hoen…

2003/??/??

Viên Viên Khúc và nỗi bi cảm về thân phận con người trong lịch sử

Mặc dù nhân sĩ đời Minh mạt Thanh sơ Ngô Vĩ Nghiệp (1609 – 1672) tự Tuấn Ông, hiệu Mai Thôn có khá nhiều trước tác có giá trị, nhưng trong số đó thì bài thơ trường thiên “Viên Viên khúc” chính là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông. Được đánh giá là thi phẩm trường thiên kiệt xuất bậc nhất trong lịch sử thi ca Trung Quốc kể từ sau tác phẩm “Trường hận ca” của thi nhân đời Đường Bạch Cư Dị trước đó tám trăm năm, bài thơ “Viên Viên khúc” cũng được sáng tác dựa trên đề tài lịch sử, tương tự như trường hợp của “Trường hận ca”. Nhưng đặc biệt hơn, hai nhân vật chính trong bài thơ, Trần Viên Viên (1624 – 1681) và Ngô Tam Quế (1612 – 1678), lại là hai nhân vật đương thời, là đồng hương với tác giả, sống cùng thời với tác giả, và có lẽ là họ cũng quen biết tác giả cũng nên.

Toàn bài thơ kể lại cuộc đời chìm nổi đầy bị thảm và cay đắng của Trần Viên Viên, một giai nhân tuyệt thế đời Minh mạt. Nàng tên thật là Hình Nguyên, người Tô Châu, thuở nhỏ đã bị bắt làm kỹ nữ ở Lệ Xuân Viện, sắc đẹp tuyệt trần, tài hoa quán thế. Ngoại thích họ Điền mua nàng về để dâng lên vua Sùng Trinh, nhưng nhà vua chỉ quan tâm chính sự, không ham mê nữ sắc nên trả nàng về cho họ Điền. Về sau Ngô Tam Quế say mê Trần Viên Viên nên xin cho chuộc nàng ra, và cưới nàng làm vợ. Ngô Tam Quế được phái đi trấn thủ Sơn Hải Quan để ngăn chặn quân Thanh vào cõi, còn Trần Viên Viên ở lại Bắc Kinh trong nỗi ngóng trông mòn mỏi. Ngờ đâu khói bụi chinh chiến lại nổi lên, nghĩa quân của Sấm Vương Lý Tự Thành đánh vào Bắc Kinh, vua Sùng Trinh treo cổ tự vẫn ở Môi Sơn. Lý Tự Thành bắt giam cả gia quyến Ngô Tam Quế và yêu cầu Ngô Tam Quế quy phục. Ban đầu Ngô Tam Quế có ý định đầu hàng Lý Tự Thành, nhưng khi nghe tin vợ mình là Trần Viên Viên đã bị bộ tướng của Lý Tự Thành là Lưu Tông Mẫn bắt làm tỳ thiếp, thì chàng đùng đùng nổi giận, cất quân bản bộ hợp sức với quân Thanh vào cõi, đánh bại Lý Tự Thành, giành lại người vợ yêu từ tay giặc. Nhà Thanh thu về được thiên hạ, phong Ngô Tam Quế làm Bình Tây Vương, đi trấn thủ miền Vân Nam, Quý Châu, uy danh lừng lẫy, Trần Viên Viên cũng trở thành vương phi. Chuyện tình kỳ thú và nỗi bi hoan ly hợp của hai người đã trở thành một giai thoại nổi tiếng nhất đương thời.

Về nhân vật Trần Viên Viên trong bài thơ, tựu trung các ý kiến đều thống nhất cho rằng tình cảm mà Ngô Vĩ Nghiệp dành cho nhân vật này là cảm thông, thương xót, đồng thời thấu hiểu nỗi oan khuất của nàng với cái tiếng xấu “hồng nhan họa thủy” mà thiên hạ gán cho. Thật ra, cái nhìn cảm thông và bao dung đối với phụ nữ là phù hợp với nhãn quan hện đại, và may thay vẫn chưa bị đề mốt… Nhưng khi bàn về nhân vật Ngô Tam Quế, người mà Trần Viên Viên đã gắn bó phần lớn cuộc đời đau khổ của nàng, thì các ý kiến lại không hề thống nhất, vì trên thực tế, Ngô Tam Quế là một nhân vật khá phức tạp. Có nhiều ý kiến cho rằng bài thơ này thông qua mối buồn vui tan hợp của Trần Viên Viên và Ngô Tam Quế để châm biếm hành vi “phản quốc” của Ngô Tam Quế. Tuy nhiên, người viết đọc trong toàn bài thơ không hề thấy có ý châm biếm hay đả kích gì. Ngược lại, hình ảnh Ngô Tam Quế trong bài thơ được khắc họa với những nét đẹp đẽ hùng tráng nhiều khi có thể làm rung động lòng người.

Đọc các câu thơ đầu tiên, người đọc cảm nhận thấy ngay một uy vũ dồn dập: “Đỉnh hồ đương nhật khí nhân gian/ Phá địch/ thu kinh/ há Ngọc quan/ Đỗng khốc lục quân câu cảo tố“, thật là phù hợp với cái khí thế ào ào tiếp ngay sau đó của “Điện tảo Hoàng Cân/ định Hắc Sơn/ Khốc bãi quân thân/ tái tương kiến“. Các sự kiện lịch sử diễn ra quá nhanh, quá liên tục, khiến cho người đọc như bị ào ạt cuốn đi theo dòng chảy ấy. Người đọc còn thế, huống chi là nhân vật anh hùng, người xuất hiện ở câu thơ thứ tư với hình ảnh độc đáo lạ thường: “Xung quan nhất nộ vị hồng nhan!” Xưa kia người thích khách Kinh Kha cũng đã dựng cả tóc dưới mũ trên bờ sông Dịch, trong buổi tiễn hành lên đường một đi không trở lại, một lần ra đi trừ diệt vua Tần tàn bạo cho cả thiên hạ được nhờ. Còn tướng quân Ngô Tam Quế cũng bừng giận dựng tóc y như thế, nhưng đâu phải vì thiên hạ, mà lại vì hồng nhan! Rõ ràng là trong con mắt của người anh hùng này, cái thiên hạ mà bao người lăm le tranh đoạt kia đâu thể bằng được một mảnh má hồng.

Ngay bốn câu thơ đầu tiên, người đọc đã cảm nhận được hai điều: một là dòng lịch sử trôi đi ào ạt và mạnh mẽ cuốn trôi biết bao nhiêu nhân vật phong lưu xưa nay theo dòng chảy của nó; hai là ấn tượng hết sức “ngầu” về người anh hùng độc đáo Ngô Tam Quế. Dòng lịch sử ấy vẫn cuồn cuộn chảy mãi suốt bài thơ dài, chẳng khác gì dòng sông Hán chảy mãi về đông, và ấn tượng về Ngô Tam Quế cũng phát triển theo bài thơ, hình ảnh càng lúc càng rõ nét và đầy đủ hơn, và đồng thời cũng đẹp đẽ và rung cảm hơn. Từ hình ảnh “Xung quan nhất nộ vị hồng nhan” ban đầu ấy, người đọc làm quen với nhiều khía cạnh khác của Ngô Tam Quế, từ một chàng quý tộc trẻ trung trắng trẻo “Bạch tích thông hầu tối thiếu niên” đến một người anh hùng dày dạn và đa tình “Anh hùng vô nại thị đa tình“. Ai cũng có thể không rung động trước những hình ảnh thật hào hùng và cũng thật hào hoa của “Nhược phi tráng sĩ toàn sư thắng/ tranh đắc nga my thất mã hoàn“? Ai cũng có thể thờ ơ trước hoàn cảnh thật đẹp và nên thơ của tình huống “Nga my mã thượng truyền hô tiến” hay “Lạp cự nghênh lai tại chiến trường“?

Nói tóm lại, hình ảnh của Ngô Tam Quế hiện ra trong những vần thơ, trôi theo dòng chảy của thời cuộc, vẫn để lại một ấn tượng độc đáo và đẹp đẽ, hoàn toàn không có một vẻ châm biếm hay đả kích nào đối với nhân vật này. Ngay cả câu thơ “Thê tử khởi ưng quan đại kế/ Anh hùng vô nại thị đa tình” xưa nay vẫn thường được trích dẫn để chứng minh sự chê bai đối với hành vi thiếu trách nhiệm “vì tình lụy nước” của Ngô Tam Quế, thực ra cũng góp phần tô điểm thêm cho tính cách “anh hùng” của nhân vật này mà thôi. Đúng thế, anh hùng mà đa tình thì có sao đâu? Hơn nữa, một người anh hùng trong các truyện thuyết xưa nay nếu chẳng có đa tình đa cảm, thì hóa ra lại là một ông tướng khô khan chán ngắt hay sao? Anh hùng – đa tình, hai khái niệm này đã đi đôi với nhau từ lâu trong cách suy nghĩ truyền thống của người Trung Quốc giàu tình cảm rồi.

Mà thật vậy, làm sao Ngô Vĩ Nghiệp có thể lên án, châm biếm hay chê bai Ngô Tam Quế về hành vi “phản quốc” cho được, trong khi chính ông cũng đã ra làm quan cho nhà Thanh kia mà? Hoàn cảnh của Ngô Vĩ Nghiệp tuy ra làm quan cho nhà Thanh nhưng trong lòng vẫn bứt rứt hối hận không an vì quyết định của mình. Các danh sĩ người Hán đương thời hầu như ai cũng chất chứa trong lòng sự mâu thuẫn đó, và Ngô Vĩ Nghiệp cũng vậy. Có lẽ Ngô Vĩ Nghiệp tự cho mình cũng chỉ là một cá nhân nhỏ bé bị thời cuộc xô đẩy và chi phối, không thể làm chủ được vận mệnh và quyết định của mình. Và cũng có lẽ là ông muốn gửi gắm nỗi niềm day dứt đó thông qua số phận của hai nhân vật Trần Viên Viên và Ngô Tam Quế, hai nhân vật lịch sử mà đương thời là nổi danh nhất. Trần Viên Viên bị cho là “hồng nhan họa thủy” đã làm mất nhà Minh, còn Ngô Tam Quế thì bị kết tội phản quốc, nhưng theo quan điểm của Ngô Vĩ Nghiệp, thực ra hai người ấy cũng chỉ là những cá nhân, những con người, trôi theo dòng chảy thời cuộc, và bị dòng chảy thời cuộc ấy cuốn đi mà thôi. Cuộc đời trầm luân của Trần Viên Viên đã không phải do nàng làm chủ, điều ấy có thể được giải thích bởi lý lẽ rằng xưa nay hồng nhan thường bạc mệnh, nhưng còn bậc tu mi nam tử Ngô Tam Quế thì sao? Than ôi, Ngô Vĩ Nghiệp há cũng chẳng phải cũng là một bậc nam tử tu mi đầy đủ đó sao, và cũng đã không thể làm chủ vận mệnh và hành vi của mình đó sao?

Thời gian và số phận từ xưa đến nay đã khơi nguồn cho biết bao nhiêu cảm xúc bi hoài trong văn học. Không ai có thể cưỡng lại được thời gian; còn số mệnh, tức ý trời, theo phong cách hiện đại thì gọi là “thực tại khách quan” cũng chẳng thể đổi thay theo ý thích con người được. Và cả hai nguồn bi cảm đó đều xuất hiện và hòa quyện vào nhau trong tác phẩm “Viên Viên khúc”. Chính số phận đã tạo ra những anh hùng như Ngô Tam Quế, những mỹ nhân như Trần Viên Viên, và chính thời gian đã cuốn trôi họ đi theo dòng lịch sử. Qua bài thơ, bên cạnh những nội dung chính như nỗi cảm thương cho số phận trầm luân của người tài hoa và thái độ bênh vực và đề cao nữ giới, Ngô Vĩ Nghiệp còn thể hiện một quan điểm duy vật lịch sử tuy không đầy đủ nhưng cũng tương đối rõ rệt, bác bỏ cái nhìn cho rằng lịch sử được xây dựng trên những cá nhân; đồng thời với việc nhận thực sự biến chuyển tất yếu của lịch sử xã hội, ông cũng không thể tránh khỏi nỗi bi hoài trước số phận và khả năng quá đỗi giới hạn của con người trước dòng chảy lịch sử. Đó là một khuyết điểm về mặt nhận thức, nhưng đồng thời lại là một ưu điểm về khía cạnh trữ tình văn học của nhà thơ.

2004/12/09

o0o

Viên Viên khúc

Đỉnh hồ đương nhật khí nhân gian
Phá địch thu kinh há Ngọc Quan
Đỗng khốc lục quân câu cảo tố
Xung quan nhất nộ vị hồng nhan.

Hồng nhan lưu lạc phi ngô luyến
Nghịch tặc thiên vong tự hoang yến
Điện tảo Hoàng Cân định Hắc Sơn
Khốc bãi quân thân tái tương kiến.

Tương kiến sơ kinh Điền Đậu gia
Hầu môn ca vũ xuất như hoa
Hứa tương thích lý không hầu kỹ
Đẳng thủ tướng quân du bích xa.

Gia bản Cô Tô Cán Hoa Lý
Viên Viên tiểu tự kiều la ỷ
Mộng hướng Phù Sai uyển lý du
Cung nga ủng nhập quân vương khởi
Tiền thân hợp thị thái liên nhân
Môn tiền nhất phiến Hoành Đường thủy.

Hoành Đường song tương khứ như phi
Hà xứ hào gia cưỡng tải quy
Thử tế khởi tri phi bạc mệnh
Thử thì chỉ hữu lệ triêm y.

Huân thiên ý khí liên cung dịch
Minh mâu hạo xỉ vô nhân tích
Đoạt quy vĩnh hạng bế lương gia
Giáo tựu tân thanh khuynh tọa khách.

Tọa khách phi trường hồng nhật mộ
Nhất khúc ai huyền hướng thùy tố
Bạch tích thông hầu tối thiếu niên
Giản thủ hoa chi lũ hồi cố
Tảo huề kiều điểu xuất phàn lung
Đãi đắc Ngân Hà kỷ thì độ
Hận sát quân thư để tử thôi
Khổ lưu hậu ước tương nhân ngộ.

Tương ước ân thâm tương kiến nan
Nhất triêu nghĩ tặc mãn Trường An
Khả liên tư phụ lâu đầu liễu
Nhận tác thiên biên phấn nhứ khan.
Biến sách Lục Châu vi nội đệ
Cưỡng hô Giáng Thụ xuất điêu lan
Nhược phi tráng sĩ toàn sư thắng
Tranh đắc nga my thất mã hoàn.

Nga my mã thượng truyền hô tiến
Vân hoàn bất chỉnh kinh hồn định
Lạp cự nghênh lai tại chiến trường
Đề trang mãn diện tàn hồng ấn
Chuyên chinh tiêu cổ hướng Tần Xuyên
Kim Ngưu đạo thượng xa thiên thặng
Tà Cốc vân thâm khởi họa lâu
Tản Quan nguyệt lạc khai trang kính.

Truyền lai tiêu tức mãn giang hương
Ô cữu hồng kinh thập độ sương
Giáo khúc kỹ sư liên thượng tại
Cán sa nữ bạn ức đồng hành
Cựu sào cộng thị hàm nê yến
Phi thướng chi đầu biến phượng hoàng
Trường hướng tôn tiền bi lão đại
Hữu nhân phu tế thiện hầu vương.

Đương thì chỉ thụ thanh danh lụy
Quý thích danh hào cạnh diên trí
Nhất hộc châu liên vạn hộc sầu
Quan sơn phiêu bạc yêu chi tế
Thác oán cuồng phong dương lạc hoa
Vô biên xuân sắc lai thiên địa.

Thường văn khuynh quốc dữ khuynh thành
Phiên sử Chu lang thụ trọng danh
Thê tử khởi ưng quan đại kế
Anh hùng vô nại thị đa tình
Toàn gia bạch cốt thành khôi thổ
Nhất đại hồng trang chiếu hãn thanh.

Quân bất kiến:
Quán Oa sơ khởi uyên ương túc
Việt nữ như hoa khan bất túc
Hương kính trần sinh điểu tự đề
Tiệp lang nhân khứ đài không lục.
Hoán vũ di cung vạn lý sầu
Châu ca thúy vũ cổ Lương Châu
Vị quân biệt xướng Ngô cung khúc
Hán Thủy đông nam nhật dạ lưu.

Ngô Vĩ Nghiệp