Lá cờ thái cực và lẽ chính thống

Tôi đang tính viết một entry về bản chất của phong trào cực hữu, nhưng đáng tiếc hiện quá bận rộn… Chắc là có một cô bé sẽ hỏi tôi rằng anh làm gì mà lúc nào cũng than bận, ừ thì tôi cũng phải làm việc kiếm tiền nuôi sống bản thân và gia đình, góp phần xây dựng xã hội, và đóng thuế đầy đủ cho các ông lớn đánh bạc chơi gái và gửi con ra nước ngoài du học… Có một bài viết về vấn đề học phí, bắt đầu viết đã lâu rồi, nhưng hiện nay tuyệt nhiên không có hứng thú với vấn đề này nên chẳng thể viết cho xong. Viết về Vàng Anh chăng? Thú thật là tôi chưa xem tập nào, cũng chả biết Darth Việt hay Darth Vader khác nhau ra sao… Thôi thì viết một entry ngắn về lá cờ Thái cực vậy, âu cũng là một entry vớ vẩn đọc cho vui mà thôi.

Không như nhiều người Việt Nam thường nghĩ, lá cờ Thái cực này tuyệt đối không phải gắn liền với chính thể Đại Hàn Dân Quốc, một chính thể phản động (cho đến ngày nay vẫn còn phản động) do Lý Thừa Vãn lập ra năm 1948. Lịch sử của lá cờ thái cực lâu đời hơn lịch sử Đại Hàn Dân Quốc nhiều, nó đã xuất hiện dưới triều nhà Lý, triều đại quân chủ cuối cùng của nước Triều Tiên: lá cờ thái cực (không khác mấy so với phiên bản ngày nay) đã được vua Cao Tông nhà Lý chọn làm quốc kỳ từ năm 1882, và đã là quốc kỳ Triều Tiên cho đến khi nước này bị sáp nhập vào Nhật Bản năm 1910.

Trước giai đoạn lịch sử đó, Triều Tiên, cũng như các quốc gia chịu ảnh hưởng Trung Hoa khác (trong đó có Việt Nam), không có khái niệm về một lá quốc kỳ, một lá cờ tượng trưng cho đất nước. Nhu cầu về một lá quốc kỳ chỉ xuất hiện cùng với mối quan hệ ngoại giao mới với các nước Tây phương – và cả với Nhật Bản, một nước đã Âu hóa mạnh mẽ với chủ trương “Thoát Á” nữa. Thực tế là sự kiện lá cờ Nhật trên chiến hạm Nhật Bản bị lực lượng Triều Tiên ở đảo Giang Hoa bắn (sự kiện Vân Dương), đã dẫn đến va chạm với Nhật Bản và tiếp theo là điều ước đảo Giang Hoa năm 1876 phá bỏ thế tự cô lập của Triều Tiên, mở cánh cửa vào Triều Tiên cho liệt quốc, và mở đầu lịch sử bang giao quốc tế hiện đại của nước này. Đồng thời nó cũng khiến Triều Tiên phải đối mặt với nhiều vấn đề ngoại giao mới mẻ, trong đó có vấn đề về một lá quốc kỳ đại diện cho đất nước trong quan hệ quốc tế.

Chỉ vài năm sau điều ước đảo Giang Hoa, trong một hội nghị định ra quốc kỳ do vua Cao Tông chủ trì năm 1882, với sự tham gia của các đại diện nước Đại Thanh (mà trên danh nghĩa Triều Tiên vẫn là một chư hầu), chính đại diện của Thanh triều ở Triều Tiên khi ấy là Mã Kiến Trung đã đưa ra ý kiến sử dụng hình thái cực và bát quái để làm quốc kỳ cho Triều Tiên. Ông đã trình bày ý tưởng với đại thần Triều Tiên là Kim Hoằng Tập (một người theo tư tưởng Khai Hóa, từng sang Nhật, và mong muốn áp dụng những cải cách của Nhật Bản vào tình hình Triều Tiên), và phía Triều Tiên đã chấp nhận. Lịch sử cũng ghi lại lần đầu tiên Triều Tiên chính thức sử dụng lá cờ Thái cực này trong bang giao là vào năm 1882, khi Phác Vịnh Hiếu (cũng là một đại thần trẻ tuổi trong phái Khai Hóa của Triều Tiên như Kim Hoằng Tập) được cử làm sứ thần sang Nhật Bản. Lá cờ được Phác Vịnh Hiếu sử dụng không khác mấy với lá cờ Thái cực ngày nay: nền trắng, thái cực ở giữa, với bốn quẻ bát quái về bốn góc cờ.

Xung quanh những nhân vật liên quan đến sự ra đời của lá cờ Thái cực cũng có nhiều chi tiết đáng lưu ý: vua Cao Tông chính là vị vua đầu tiên, với sự thúc đẩy của Nhật Bản, đã xưng đế và lập ra Đại Hàn Đế Quốc, chính thức cắt đứt mối quan hệ triều cống với Đại Thanh – việc này vốn chẳng tốt đẹp gì, thực ra chính là bước đầu tiên để Nhật Bản bắt đầu “làm thịt” Triều Tiên mà thôi. Cũng dưới thời Cao Tông mà hiệp ước bảo hộ đã tước đi cái gọi là “nền độc lập” của Triều Tiên và trao đất nước này cho Nhật Bản kiểm soát, để đến năm 1910 thì Triều Tiên chính thức bị xóa tên khỏi bản đồ thế giới. Còn Kim Hoằng Tập và Phác Vịnh Hiếu đều là những trí thức khai hóa, họ tiếp thu văn minh Tây phương thông qua Nhật Bản, học hỏi con đường canh tân của Nhật Bản, cổ vũ việc hợp tác với Nhật Bản, cải cách theo lối Nhật Bản để giữ nước, nhưng dưới góc độ lịch sử, có thể nói chính con đường của họ đã tạo cơ hội cho Nhật Bản sáp nhập Triều Tiên về sau này. Cuối cùng, Mã Kiến Trung tuy là một học giả Đại Thanh có tư tưởng duy tân, đồng thời với Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, nhưng rốt cuộc vẫn là quan chức Đại Thanh đóng vai trò bảo hộ, chức phận của ông là duy trì vào bảm đảm lợi ích của Đại Thanh ở Triều Tiên, tranh giành với ảnh hưởng đang lên của Nhật Bản để giữ Triều Tiên ở vị thế chư hầu của nước mình.

Nói tóm lại, lá cờ này:
- Là lá quốc kỳ đầu tiên đại diện cho nước Triều Tiên được sử dụng trong bang giao quốc tế.
- Ra đời và gắn liền với một thời kỳ mà đất nước Triều Tiên đang mất dần quyền tự chủ vào tay Nhật Bản.
- Xuất phát từ ý tưởng của một quan chức Đại Thanh đang bảo hộ Triều Tiên.
- Do một vị vua ở dưới quyền kiểm soát của Nhật Bản (nói thẳng ra là vua bù nhìn) ban bố.
- Do một sứ thần sang Nhật Bản sử dụng lần đầu tiên.

Với những đúc kết đó, liệu đã có thể kết luận đây chính là một “lá cờ bán nước” theo cách mà tôi từng nghe một hồng vệ binh gọi lá cờ “Long Tinh” của nước Việt ta? Mà cho dù lá cờ ấy không thật sự bán nước đi nữa (chỉ có con người mới có thể bán nước, chứ lá cờ thì không), nó cũng đã gắn liền với một giai đoạn lịch sử ô nhục và bi thương của dân tộc Triều Tiên, một giai đoạn lịch sử mà mỗi người Triều Tiên yêu nước chân chính đều đau xót khi gợi lại. Lá cờ ấy đã gắn liền với những con người, tuy rằng có thể họ cũng có tâm huyết đối với vận mệnh đất nước, nhưng rút cuộc cũng không cứu nổi giang sơn thoát khỏi ách đô hộ của ngoại bang. Một lá cờ như thế, liệu có còn xứng đáng để đại diện cho đất nước nữa hay không? Có lẽ lãnh tụ Kim Nhật Thành vĩ đại cũng đã nghĩ đến điểm này, khi ông thẳng tay vứt bỏ lá cờ Thái cực để thay bằng một lá cờ hoàn toàn mới, mang đậm hơi thở cách mạng, thấm nhuần tinh thần đại kết Cộng sản, và chắc chắn là trông hiện đại tân tiến hơn nhiều…

Thế mà ngày nay bốn mươi triệu người Hàn Quốc vẫn nghiêm cẩn chào “lá cờ bán nước” ấy, và họ tự hào mang theo lá cờ Thái cực đi khắp bốn biển, kiêu hãnh ngẩng cao đầu làm người Hàn Quốc, sánh vai với các cường quốc năm châu, thật khác xa với thái độ “uy phong” của người Việt ta khi đi ra ngoại quốc… Thật là một dân tộc phản động cực độ từ quan đến dân, từ nam đến nữ, từ diễn viên đến khán giả…

2007/10/31