Maid of Athens, a translation

George Gordon Byron là một thi sĩ Anh Cát Lợi và là một nhà ái quốc Hy Lạp sống vào đầu thế kỷ 19. Có lẽ nhiều người sẽ lấy làm lạ rằng một quý tộc Anh quốc làm sao lại là một nhà ái quốc Hy Lạp được; nhưng thực ra chuyện ấy có gì đáng lạ lùng đâu. Con người không chọn quê hương tổ quốc cho mình, mà trái tim khao khát tự do của người thi sĩ lãng mạn kiểu Byron làm sao có thể bị trói buộc vào những quy định yêu cầu cứng nhắc của một xã hội bảo thủ được. Huống chi tình yêu của Byron dành cho nước Hy Lạp đâu có nghĩa là chàng không yêu tổ quốc của mình? Và thật sự là Byron, một người mà lối sống buông thả trụy lạc không làm vừa lòng xã hội bảo thủ đương thời, đã làm vinh danh tổ quốc mình ở một phương trời xa thẳm nơi những người dân đặt tên con mình là Viron (là Byron trong tiếng Hy Lạp) để tưởng nhớ chàng, và tình cảm nồng nàn của chàng dành cho lý tưởng độc lập của dân tộc Hy Lạp càng khiến cho Anh quốc tự hào về đứa con tài hoa mà hoang đàng của mình.

Bài thơ “Thiếu nữ Athen” được viết năm 1810, khi ấy Byron mới là một chàng trai hai mươi hai tuổi, phiêu bạt qua những xứ sở phương Đông, và phải lòng đất nước Hy Lạp tươi đẹp mà nghèo nàn đang rên xiết dưới ách thống trị gần bốn trăm năm của đế chế Ottoman. Chàng trú trong nhà bà quả phụ Makri, người có ba cô con gái xinh đẹp tuyệt vời, và nàng Teresa khi ấy tuổi mới chừng mười bốn (nhưng chớ quên vào tuổi đó thì nàng Giulietta thành Verona đã chuẩn bị lấy chồng rồi). Người ta nói Philhellenism là tình yêu dành cho một lý tưởng chứ không hẳn là dành cho một đất nước, nhưng tôi khó mà tin được rằng Byron không thật sự yêu mến đất nước và dân tộc này, bởi bài thơ được viết rất lâu trước khi cuộc chiến tranh độc lập nổ ra ở Hy Lạp, càng trước khi Byron tham gia vào cuộc chiến tranh thần thánh và chết ở đây, giữa những người Hy Lạp. Hy Lạp là một đất nước mà đến tôi cũng phải yêu nữa là Byron, và vẻ đẹp tuyệt trần của những cô gái Hy Lạp còn đủ làm xao xuyến trái tim khô lạnh của tôi nữa là cõi lòng nồng cháy của Byron!

o0o

Thiếu nữ Athen, trong phút biệt
Xin em trao trả trái tim tôi!
Nếu trái tim rời khỏi ngực rồi
Hãy nhận cả xác hồn trọn vẹn
Cho tôi gửi lại câu thề hẹn:
Zoi mou sas agapo

Thề với món tóc mây lơi lả
Bay tung trong gió biển Ege
Ren hạt huyền khăn rủ nét mi
Se sẽ chạm ửng hồng má thắm
Với đôi mắt nai tơ thăm thẳm:
Zoi mou sas agapo.

Thề với đôi môi tôi khao khát
Với eo thon vừa vặn vòng ôm
Với dấu hoa ngầm ý chứa chan
Những tình tứ muôn lời khôn giãi
Với cay đắng ngọt bùi tình ái:
Zoi mou sas agapo.

Thiếu nữ Athen, tôi đi nhé
Đừng quên tôi! Những lúc cô đơn
Dẫu tôi xa tận Istambol
Athen mãi ở trong tâm trí
Liệu tôi có quên em? Không thể!
Zoi mou sas agapo.

Byron
(Tryst dịch xong ngày 2007/10/25)

Đừng yêu nước?

Đã bao giờ bạn tự hỏi vì sao mình lại yêu nước? Đã bao giờ bạn thử nhủ lòng đừng yêu nước nữa xem thế nào? Có bao giờ bạn thử kháng cự lại hấp lực lạ kỳ của lòng yêu nước, để kiểm chứng xem tình cảm yêu nước trong trái tim bạn là một tình cảm chân thực hay chỉ là thời thượng?

1
Ôi, nói thế thôi, chứ ai lại có thể không yêu nước, nhất là khi đất nước đó là nước Việt? Mỗi lần rời khỏi đô thành, mỗi lần phiêu bạt qua dải giang sơn cẩm tú này, trong lòng tôi lại cảm thấy tình yêu dành cho mảnh đất ấy chan chứa ngập tràn lồng ngực, khó có thể kiềm chế nổi. Mà khổ thay, xưa nay tôi vẫn có quan niệm là khi trong lòng đang xúc động mạnh mẽ thì không nên nói gì, viết gì cả… Mà thật ra có muốn nói, có muốn viết gì thì cũng chỉ bất lực, vì tình cảm ấy không sao tả được bằng lời. Thế nên đi chơi về cả tháng rồi bây giờ mới viết được một bài vớ vẩn này, đọc vẫn chẳng ra đâu vào đâu…

2
Xin đừng nghĩ tôi là một người yêu nước cực đoan. Tôi vốn tuyệt đối không cho rằng yêu nước là bổn phận, là nghĩa vụ của con người. Có người sinh ra là người Trung Quốc, có người sinh ra là người Việt Nam, có người lại là người Miên, người Thái, người Hàn, người Nhật, chẳng qua chỉ là số phận ngẫu nhiên, chứ họ có tự chọn tổ quốc cho mình đâu? Mà một tổ quốc không do mình chọn cho mình, thì có gì mà phải yêu? Cho nên bắt ép lòng mình phải yêu nước, hoặc tệ hơn nữa, bắt người khác phải yêu nước như mình, điều đó quả thật vớ vẩn. Cái giá trị của tình yêu nói chung và lòng yêu nước nói riêng, đó là sự tự do, tự nguyện: tôi mến yêu tổ quốc tôi vì tổ quốc tôi thật xứng đáng để tôi mến tôi yêu. Nếu tôi cho rằng có một đất nước khác đáng để tôi yêu hơn, thì ai có thể cấm tôi yêu đất nước đó hơn tổ quốc mình? Một người sinh ra là người Việt nhưng lại yêu nước Trung Hoa, một người sinh ra là người Anh nhưng lại yêu nước Hy Lạp, một người sinh ra là người Mỹ nhưng lại yêu nước Việt Nam, điều ấy vốn chẳng có gì lạ lùng hay đáng ngạc nhiên. Còn một “tình yêu” (nếu có thể gọi là tình yêu) do bị bắt buộc thì sao có thể gọi là tình yêu đích thực?

Dài dòng văn tự như vậy chung quy chỉ để nói rằng tôi yêu đất nước này không phải chỉ vì tôi đã sinh ra, đã lớn lên, và đang sống trên mảnh đất ấy, rằng tôi yêu dân tộc này không phải vì chính bản thân tôi cũng mang chung dòng máu ấy (về vấn đề máu me thì tôi không chắc lắm, biết đâu mình vốn là con cháu những người Hán di cư xuống phía nam cách đây độ hai nghìn năm cũng nên) nên tự nhiên có bổn phận phải yêu. Tình yêu nước hình thành trong trái tim tôi, cũng như trong tái tim mọi người, thông qua một con đường vòng, theo một quá trình dần dà hình thành. Bao nhiêu năm ở trên mặt đất này, giữa những con người này là những điều kiện ban đầu ấy đã góp phần không nhỏ trong việc hình thành và củng cố mối dây liên hệ giữa một cá nhân là tôi với đất nước này, dân tộc này. Tôi “yêu quê hương vì trong từng nắm đất có một phần xương thịt của em tôi…“, thế thôi. Cái mối dây thâm tình trói buộc trái tim của một người với đất nước của người ấy có cao siêu trừu tượng chút nào đâu?

Tôi và các bạn có lẽ đều yêu nước Việt (nếu bạn không yêu nước thì cho tôi xin lỗi), cho dù nước ta không có đất đai rộng lớn, lịch sử hào hùng, kinh tế giàu mạnh, văn hóa phát triển, ngôn luận tự do, nhân quyền bảo đảm, cũng chẳng có cái kỳ quan nào, thì ta vẫn cứ yêu nước phải không? Cho dù nước ta còn nghèo khó, dân ta còn lầm than, ta chưa có dân chủ, cũng chưa đủ tự do, thì ta vẫn cứ yêu nước, bởi tất cả những điều đó không phải là điểm cốt lõi của lòng yêu nước chân chính. Nếu ta yêu nước vì nước ta giàu đẹp, thì khi đất nước bị tàn phá tan hoang, nghèo nàn xơ xác, ta còn yêu nước không? Nếu ta yêu nước vì lịch sử hào hùng, khì thi đất nước bị lăng nhục, phải cúi đầu, ta còn yêu nước không? Nếu ta yêu nước vì bất cứ lý do nào đó mà ta viện ra, thì khi đất nước bị xóa tên trên bản đồ, ta còn yêu nước không? Lòng yêu nước, cũng như mọi tình yêu thiêng liêng khác, là một tình cảm tự nguyện, và không cần giải thích gì đâu.

3
Có người chê câu “rừng vàng biển bạc” là tự huyễn hoặc mình, tôi tuyệt đối không cho là đúng. Có đi khắp dải đất Đông Dương này rồi mới thấy nước ta quả thực là rừng vàng biển bạc, câu ấy không ngoa đâu. Nước ta đẹp, hẳn nhiên rồi, nhưng nước ta cũng giàu có nữa, ít ra là về mặt tài nguyên. Đồng ý là có nhiều tài nguyên then chốt mà ta không có, nhưng những thứ sẵn có thì không tệ chút nào: mọi thứ đều có thể ra tiền được, mà nhiều tiền là đằng khác, và tiền thì có thể giúp cho dân ta giàu, nước ta mạnh được. Đáng tiếc là những thứ ra tiền đó vẫn chỉ dưới dạng tiềm năng…

Có ý kiến khác thì cho rằng cứ phải nhắc nhở rằng nước ta còn nghèo lắm, như thế mới có động lực phấn đấu để làm cho dân giàu nước mạnh lên được, điều này thì cũng đúng phần nào. Nhưng tôi nghĩ việc xác định rõ nước ta quả thật là rừng vàng biển bạc kể cũng có điểm hay: nếu một đất nước luôn bao gồm hai phần cụ thể là lãnh thổ và con người, thì mọi người có thấy chăng một điểm kỳ lạ, cũng có thể gọi là một nghịch lý, là một dân tộc thông minh cần cù nhường ấy, sống trên một mảnh đất, một vùng biển trù phú nhường ấy, thế mà nghèo vẫn cứ nghèo, yếu vẫn cứ yếu? Nói cách khác, tiềm năng mãi mãi chỉ là tiềm năng thôi sao? Hay nói thẳng ra, không lẽ dân tộc ấy tệ hại đến nỗi sống giữa rừng vàng biển bạc mà mãi vẫn thua kém người ta? Có lẽ suy nghĩ theo cách đó thì sẽ dễ tạo ra nỗ lực, xung phẫn hơn chăng?

Như trên tôi đã nói, sự giàu đẹp của đất nước không phải là một lý do để chúng ta yêu nước. Chúng ta có thể yêu một đất nước rừng vàng biển bạc, và cũng có thể yêu một đất nước rừng nghèo biển cạn được. Nhưng trái tim ta sẽ vui biết chừng nào khi nước ta rộng lớn hùng cường, dân ta ấm no hạnh phúc, và sẽ buồn biết mấy nếu thực tế là ngược lại. Tình yêu không phải bao gồm ước muốn điều tốt cho người mình yêu sao? Bởi tôi yêu nước nên tất yếu tôi phải vui vì lãnh thổ trù phú, và cũng bởi tôi yêu nước nên tất yếu tôi phải buồn vì nhân dân còn lầm than, điều đó dường như quá sức hiển nhiên…

4
Tôi thấy có nhiều người trách người khác tại sao chỉ nói ra cái xấu, cái dở của nước mình. Hẳn nhiên là thứ gì cũng có hai mặt, nước ta trong hơn ba mươi năm qua cũng đạt được một ít thành tựu, nhưng những cái xấu, cái dở thì vẫn còn quá nhiều, sao lại không nói ra? Còn lý do chỉ nói mặt xấu mà không nói mặt tốt thì đơn giản quá, những mặt tốt đã được sáu trăm tờ báo dưới sự kiểm soát của Đảng ta tuyên truyền ra rả suốt ngày suốt tháng rồi, cần gì ai khác phải nói nữa; mà nếu có nói thì chẳng qua cũng là nhai lại mà thôi, chỉ làm sướng cái lỗ tai thích nghe lời khen chứ có ích gì đâu.

Họ lại đưa ra luận điều rằng nhiều nước khác cũng hơn gì ta, tham nhũng, áp bức, độc tài, những vấn đề đó các nước xung quanh ta đều có – và từ đó họ kết luận nếu nước ta cũng có tham nhũng, áp bức, độc tài thì cũng thường thôi, hà tất phải tranh đấu làm chi. Tôi thật chẳng hiểu họ suy nghĩ theo kiểu gì, họ là người Việt hay là người Thái Lan? Tham nhũng, độc tài ở Thái Lan là chuyện của người dân Thái Lan, còn tôi và họ đều là người dân nước Việt, phải quan tâm đến vấn đề tham nhũng, độc tài ở nước Việt, những thứ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của bản thân và gia đình chúng ta, trước tiên chứ?

Tệ hơn nữa, họ chụp mũ cho những người vạch ra cái xấu, cái dở, cái kém của đất nước, của dân tộc là không yêu nước, là phản bội tổ quốc! Thật là một thủ đoạn đê hèn mà một số ai đó – cũng không cần phải nêu ra cụ thể làm gì, vì ai cũng biết là ai đấy rồi – vẫn thường sử dụng từ xưa đến nay. Họ không hiểu (hoặc có thể họ ngầm hiểu nhưng không tiện nói ra) rằng chính họ mới không đáng được gọi là người yêu nước, hoặc ít nhất là họ yêu nước không đúng cách. Một con người chân chính phải biết theo đuổi điều tốt, điều đúng, chống lại cái xấu, cái sai, và một người yêu nước là người căm ghét cái xấu ở chính đất nước mình hơn cả: “The true patriot hates injustice in his own land more than anywhere else” (Clarence Darrow). Vậy một người yêu nước phải là người mạnh mẽ vạch trần và lên án những cái xấu, cái dở của đất nước mình trước hết, và chống lại những mặt xấu đó mạnh mẽ hơn hết. Chứ ca ngợi công ơn của Đảng: “sướng vui có Đảng tiền phong, có Đảng ngời ánh thái dương…” thì mới là yêu nước hay sao?

2007/07/16

La Marseillaise, lời Việt

Dạo trước tôi được biết tới bài hát “Thanh niên thế hệ Hitler” của Sir Taylor Flak, cảm thấy khá thú vị, nên hôm nay đăng thử “tác phẩm” mới là lời Việt cho bài La Marseillaise (mới có đoạn một, là Quốc ca Pháp). Đây mới là version 0.1.0, trong tương lai có lẽ sẽ còn chỉnh sửa nhiều nữa cho thuận miệng hơn khi hát.

La Marseillaise là một bài hát được đánh giá là “tả”, nhưng tôi đặc biệt yêu thích bài hát này. Quốc tế ca cũng là một bài hát “tả”, thậm chí “cực tả”, nội dung bài hát này không chỉ khuynh tả, mà còn cộng sản, thậm chí vô chính phủ, và đó là điều khiến tôi không ưa lắm; có nhiều đoạn cứ như lời lẽ của bọn kẻ cướp ấy, chứ không phải là những con người đấu tranh chân chính — rõ ràng là tôi vẫn có não trạng trí thức “tiểu tư sản”… So với Quốc tế ca thì La Marseillaise hay hơn và chừng mực hơn nhiều, dù vẫn dùng nhiều ngôn từ “rùng rợn” như “cắt cổ”, “đẫm máu”… Đó là lời kêu gọi chiến đấu chống lại kẻ xâm lăng, bọn chuyên chế áp bức, xiềng xích nô lệ, để bảo vệ những gì con người yêu quý, tổ quốc, luật lệ, gia đình, vợ con… và tự do. Thậm chí đối với kẻ thù, lời ca còn kêu gọi nhân đạo “Portez ou retenez vos coups! Épargnez ces tristes victimes à regret s’armant contre nous.” Nói tóm lại, La Marseillaise là một bài ca của lòng yêu nước chân chính và khát vọng tự do, khác xa với khuynh hướng vô chính phủ, vô tổ quốc cực tả trong Quốc tế ca.

Nhưng dù nói gì thì nói, La Marseillaise vẫn là một bài hát “tả”, và thực tế đã là lời hiệu triệu đấu tranh của cánh tả ở châu Âu cho đến khi Công xã Paris bùng nổ — giai đoạn mà phong trào tự do dân chủ song hành cùng ý thức dân tộc của các dân tộc châu Âu ngày càng lớn mạnh. Nhiều bài ca cách mạng của cánh tả đã được viết theo nhạc điệu của La Marseillaise, và có một điều chắc nhiều người không biết, bản thân bài Quốc tế ca vốn cũng được hát theo giai điệu của La Marseillaise trong thời kỳ Công xã Paris, và sau đó một thời gian dài. Vậy tại sao tôi, một người hữu khuynh, lại yêu thích bài hát “tả” này? Thật ra tuổi hai mươi ai lại chẳng có một chút “tả” trong người, mà tôi thì cũng đang tuổi hai mươi đấy thôi… Hơn nữa, đã yêu nước thì sao lại còn phân biệt tả hữu? Nếu như hữu phải yêu tổ quốc hơn tự do, và tả phái yêu tự do hơn tổ quốc, thì may thay trong La Marseillaise, tổ quốc và tự do đã quyện hòa làm một…

Tôi cũng đang tính viết lời Việt cho bài Die Wacht am Rhein, và có lẽ sẽ đi theo một hướng tiếp cận khác, chứ không đơn thuần là dịch lời nữa. Die Wacht am Rhein cũng là một bài ca yêu nước nổi tiếng. Có một điểm hơi lạ, không rõ là trùng hợp hay có nguyên nhân, cả Die Wacht am Rhein và La Marseillaise (tên gốc là “Chant de guerre de l’Armée du Rhin” — chiến ca đạo quân sông Rhine) đều đề cập đến dòng sông Rhine ngăn cách Pháp và Đức. Phải chăng kẻ thù chính của hai dân tộc này đều ở phía bên kia sông Rhine? Ai coi phim “Casablanca” hẳn vẫn nhớ đoạn hai bài hát này cùng được cất lên trong lữ điếm…

Trong thế giới ngày nay, khi mà chủ nghĩa hòa bình (pacifism) cực đoan đang lấn lướt, La Marseillaise (và cả Die Wacht am Rhein) bị nhiều người chỉ trích vì nội dung yêu nước, chủ nghĩa quốc gia, và những lời lẽ đầy “máu me”, nói chung đều là những thứ bị đánh giá là “không hợp thời”. Nhưng lẽ nào lòng yêu nước đã lỗi thời rồi hay sao? Lẽ nào đấu tranh vì tổ quốc và tự do lại là không đúng đắn? Liệu có người Việt nào lại có suy nghĩ “pacifist” như thế chăng? Còn tôi thì tuyệt đối không nghĩ thế.

o0o0o0o

LA MARSEILLAISE

Giai điệu: http://www.navyband.navy.mil/anthems/ANTHEMS/France.mp3
Nguyên tác: Claude Joseph Rouget de Lisle
Lời Việt v0.1.2.

Nào vùng dậy thôi kìa ai dòng giống anh hùng
Đã đến lúc cùng phá tan xiềng gông!
Bọn chuyên chế mãi áp bức nhân dân ta
Ngọn cờ đẫm máu chúng vẫn giương ra
Máu kết máu bao hờn oán chưa phai nhòa
Và còn nghe chăng đã dấy lên từ khắp nơi
Quân thù hung hăng điên cuồng xông tới
Sài lang nhe nanh gầm rú ngất trời
Muốn ăn thịt đồng bào, nuốt xương của muôn người!

Chiến đấu, hỡi anh chị em!
Quyết chí sống mái một phen!
Vùng lên, vùng lên!
Thề đem máu đào
Chứa chan nhuộm thắm trận tiền!

2007/05/29

For Israel

A country without a nation for a nation without a country…

That nation now has had a country of their own, a country they had to build up and defend with toil and blood. For more than half a century, they have bravely and heroically fought subsequences wars against Arab invaders, in order to defend their tiny but dearest country, and have been always victorious. Does it mean that their Yahweh is always by their side? Is it true that he still keeps his testament with the patriarchs, and once again gathers the son and daughter of Israel and brings them back to Zion, in the Promised Land?

Perhaps there is no story more marvelously amazing, in the human history of the twentieth century, than the foundation of the state of Israel: scattered people who lost their country for more than two thousand years, who had to wandered the world, to live between gentiles, who had suffered oppression, discrimination, pogroms and massacres for centuries, now have revived the utmost dream of their ancestors by returning back to Eretz Israel, from every corner of the world, and established a Jewish State, in the midst of the arid Middle East and among the hostile neighboring Arabs nations. Surrounded in three sides by the Arab nations, the once brethrens turned enemies, they had to fight hard for the survival of the young state and the hope of the whole nation, and they have succeeded not only in defending that narrow strip of land, but also in transforming that waste land into a land of milk and honey like described in the Bible. That narrow strip of land, lacking natural resources and considered unprofitable by the Arabs for centuries, now ranks among the most developed countries of the world, with great achievements in industry and agriculture, with top educational and researching facilities of latest sciencific and technological exploration. The small Haganah paramilitary groups who defended Jewish kibbutz from Arab raids and attacks in the early stages of the immigration, now bears the name “Israeli Defense Force” (IDF), the fourth strongest army in the world (right after the three superpowers, USA, Russia, and Great Britain), the faith of the Jewish people and the fright of the Arab invaders, who had been beaten so many times. How could they do that, how could they get such extraordinary achievements, with only the will? It was not the will of one individual, it was the will of the whole nation, as Herzl had strongly asserted.

Fifty-nine years ago, in the serene afternoon of May 14, 1948, several hours before the British Mandate of Palestine expired, while the doom of the coming war was haunted over the inhabitants of Tel Aviv, the Declaration of Independence of Israel was pronounced by David Ben-Gurion, in front of the Vaad Leumi, marking the second beginning of the modern history of the Jewish nation. The War of Independence, started long before between Jewish and Arab paramilitary forces, would be officially commenced only a few hours later with the invasion of hostile armies from neighboring Arab countries: Egypt, Transjordan, Iraq, Syria, and Lebanon. Obviously it was not the beginning of the Israel Miracle, which had started with Theodor Herzl, hist “Der Judenstaat”, and the Zionist Movement half a century before; it was only the beginning of another page in the glorious history of the Jewish people: the state had been founded, and it was then time to defend it. And they had defended it, defeating all enemies, preserving the independence for the state.

Masada shall never fall again

The conflict in Palestine, raging for over half a century, shows no sign of ending even to the most optimistic witnesses. Many people, notably the disgusting pacifists, wondered why the Jews and the Arabs could not live together in peace in a common state, or in two adjacent states in Palestine. Either they are so naive, or they are implicitly anti-Zionist. Firstly, a hybrid “Isratine”, in which the Jews and the Arabs live side by side, is merely an illusion, if not a deception for the Arabs to demographically annihilate the Jewish State. Similarly, every concession from Israel was interpreted by the Arabs not as a sign of good will, but as a sign of Israel’s fear and weakness, thus it might encourage more aggression from the Arab nations instead of peace. The weak don’t deserve peace, they only deserve domination, and that’s what Arab minds think.

At least they, the Arabs, are partly right. There is no other kind of peace to offer the weak but submission, and the Jewish people had experienced that bitter truth throughout their seem-to-be-endless diaspora. The Jews had tried, for two thousand years, to live in peace — and submission – between other peoples of the world, hoping that they could be integrated and accepted. But what did they receive but oppression, discrimination, confiscation, expulsion, pogroms and massacres? The height of all these, the Holocaust, like a gloomy shadow over the humanity, proved us that the submissively pacifist approach had been completely broken and salted to the ground. The surviving Jews then chose an opposite approach: no longer would they seek integration into other people, hoping to live peacefully with them; instead they fought to found a country of their own, they strive to make themselves strong, and at least they had been successful in bringing peace to the Jews worldwide with that approach. The lives and prosperity of Jews over the world can be guaranteed when and only when the Jewish State is respected and feared among nations. Blind pacifism will never be the choice, especially when the enemies are greedy Arab countries.

The old Roman (Romans again, why can’t I get rid of them) saying “Si vis pacem para bellum” (If you want peace, prepare for war) is always correct even in our turbulent modern world where radical pacifism seems to prevail. It is a fact proven by bloody history that one can not maintain peace by submitting to other; the only way to achieve peace is to become the strong, if not the stronger. The IDF as well as the Mossad have got worldwide fame for the strength and efficiency, and every Israeli citizen are obliged to participate in military training activities to defend the state. Military plays a role so important to the state of Israel that many anti-Zionists even brand Israel a “fascist” state due to the domination of military aspects in the life of that country! Of course Israel is a highly civil society, but the particular historical and geographical circumstances that had placed them between hostile neighboring peoples, with the sea at the back, also force them to maintain and consolidate their military power in order to prevent anyone attempting to wipe Israel out of its fatherland, to erase its name from the map of the world, even Nasser who used to, or Ahmadinejad who are calling for. The horrible Holocaust by the Nazis had occurred once and for all, and it would not be allowed to repeat, even by the hands of the Arabs or the Muslims. The Jewish State must be strong so that the sons and daughters of Zion will not be led to concentration camps and gas chambers one more time – in short, Masada shall never fall again, never!

A Jewish heart beats in a foreign flesh

My fascination for the Jewish people did not really originate from that historical aspect. It roots much earlier in my life between the pages of the Bible, with the stories of the song of Deborah, the sacrifice of Jephtah, the columns of Samson, the sling of David, the hammer of the Maccabees, the prayer of Judith, et cetera. When I was just a little altar boy with nonsense thoughts of sky and earth, God and people, and before I got obsessed with the ideals of the Romans and the Danes, it was the Hellens and the Jews that were frequently mentioned in my scribblings. The admiration for the Hellens has gradually faded away with the years, but the affection for the Jews remains. Then I was grown up and learnt, and the story of God’s chosen people strikes me again, although I no longer consider myself a Jew. The calamities and injustices that they have had to suffer, the prejudice from the international press – especially in leftist Vietnam – towards them, in favor of the arrogant Arab Islamofascists, all of these cause a fiery reaction from the very depth of my heart, which soon turns into a furious fire or enthusiasm and devotion for the Jewish cause.

Is it possible, however, for a Jewish heart to beat strongly in a foreign flesh? Perhaps I am not a Jew, in blood and soul, but I am able to assert myself a heartfelt Zionist. In my short and vanishing life one of my humble wishes is that some day I would visit Zion, the holy land of the Jews, that I would celebrate the Yom Kippur among brethrens, that I would cover my head with the pure tallit and pray before the Western Wall, that I would greet my Jewish brothers and sisters with the ancient greeting in the tongue of the patriarchs “Shalom!”

14/05/2007

To commemorate the ninth of May

The ninth of May. The collapse of the Third German Reich, sixty two years ago.

1.
Last year I wrote an entry to commemorate the day, wondering if I were becoming a communist somehow. This year I am fully aware that I will never be able to become a good communist, although I am always quite impressed by Marxism. Well, that cognitive change is not in any aspect related to the recently growing anti-communist movements in Vietnam. The true reason is much simpler: I realize that I personally can not fit myself into Communism, or in another word, that ideology does not fit my personality at all. Let us see thing this way: For so long I have admired the ancient Romans along with their civil and military institutions, but could anyone ever imagine a typically rightist Roman to become communist? I also like the Danes, whose Viking ancestors dominated the Western seas during the medieval era, and similarly, could anyone ever imagine a freedom-loving Viking, with his Nordic cultural heritage, to become communist?

2.
There is one thing about the day that hasn’t changed in my mind: I still believe that the collapse of Nazi Germany was a jubilant event for the future of humanity, although its opponent, the infamous Stalinist communist regime, is not much less cruel. We should never forget the negative aspects of the Soviet victory over Nazi Germany: the expatriation and subsequent tragic fate of Soviet POWs as well as Russian anti-bolshevik soldiers, the deportation of ethnic Germans, Poles, Lithuanians, Latvians, and Cossacks to Siberian gulags, the Soviet oppressive yoke upon the Lithuanian, Latvian, and Estonian peoples, the annexation of Polish ancient lands by Stalin’s greed, the expulsion of tens of millions of Germans and Poles from their ancestral lands, the darkness that covered half of Europe behind the Iron Curtain for nearly half a century. With all of those grievous calamities by the Red Army and its regime, the Victory Day is still worth to celebrate, considering what the world had witnessed during the rise of Nazism, the most horrible ghost in the human history (and do not forget that Communist is the next ghost in line).

3.
The Nazi regime as realized by Adolf Hitler and the Third German Reich could not be considered orthodox Fascism. It was a salad bowl of various factors from fascism, socialism, collectivism, nationalism, with the inclusion of many non-fascist elements such as racism (Aryanism, Anti-Slavism and Anti-Semitism), pseudo-Christianity, paganism, etc. Although that regime had attained many extraordinarily great achievements during its existence, the atrocities that it committed were also unprecedented. While the nullification of the treaty of Versailles was completely justified according to Fascism ideologies, the systematic genocide of Jews, as well as the irrational aggressiveness of the German war machine, could not be fully explained. German Nazis had distorted one of the most glorious sets of ideas on relationships between the State and the people into a horrible realization, similar to the way Marx’s ideals were severely distorted by his followers. Because of that, the collapse of the Third Reich should be seen as the ultimate failure of a heretic application of Fascism, and therefore it has a good consequence, for future Fascist movements who want to preserve orthodox Fascist ideas.

4.
That downfall, however, did not mark the disappearance of Fascist ideologies from human history, although many people, especially communists, tend to deliberately but erroneously identify Nazism with Fascism. As Fascism was conceived much earlier than the Third Reich, it also survives the downfall of the Third Reich, and today Fascism is making a return as a rejuvenated political trend of the world, of course with a lot of supplements and modifications in order to adapt with the particular circumstances of our modern era. One of the most important characteristics that Fascism inherits from Capitalism is the adaptability, as expressed in Mussolini’s quotation: “If Fascism does not wish to die or, worse still, commit suicide, it must now provide itself with a doctrine. Yet this shall not and must not be a robe of Nessus clinging to us for all eternity, for tomorrow is some thing mysterious and unforeseen.” Perhaps no more explanation is need here, and people of the modern world should not expect a Fascism as it used to be half a century ago.

5.
Communism has fallen in Russia and disappeared from most of the world for so many years, but stubborn communists still cling to a prophesied triumph of Communism in the future, as we are always propagated by the regime in Vietnam. Based on the same ground, why can’t Fascism make a glorious triumph in the future? The horrible realization of Nazism had seriously defaced orthodox Fascist ideologies, so the return after so many setbacks would be difficult, although possible. In the other hand, future Fascist movements of the world will be able to learn a lot from the successes and failures of pioneering Fascist regimes, in Italy, Germany, Greece, Romania, Turkey, Spain, Portugal. What about a Fascist movement in Vietnam, in which combined together are the essence of Fascism and the fiercest sentiments of Vietnamese nationalism, an age-old tradition of the nation? Long live Vietnam, and long live Fascism!

2007/05/09

A Fascist flag for me

Đây là bản vẽ một lá cờ cho nhà nước phát xít tương lai, nước Cộng Hòa Đại Việt (Vietic Republic), ra đời trên mảnh đất Đông Dương tươi đẹp. Tất nhiên đây chỉ là ý tưởng của cá nhân tôi, và cũng chỉ là một trong nhiều ý tưởng của tôi: nhân dân của nước Cộng Hòa Đại Việt tương lai, dưới sự lãnh đạo của Đảng Phát Xít Đại Việt (Vietic Fascist Party), sẽ tự chọn ra lá cờ đại diện cho mình. Nhưng ước gì lá cờ của tôi được chọn nhỉ…

Mô tả:
- Lá cờ hình chữ nhật, chiều cao bằng 2/3 chiều rộng, nền đỏ. Một chữ thập đen nằm trong một chữ thập trắng ở giữa, chia nền lá cờ làm bốn phần đều nhau. Phần trên bên trái lá cờ nền đen với một ngôi sao trắng mười hai cánh.
- Độ rộng của chữ thập trắng bằng 1/4 chiều cao lá cờ. Độ rộng của chữ thập đen bằng 1/8 chiều cao lá cờ, tức bằng một nửa độ rộng của chữ thập trắng.
- Bán kính ngoài của ngôi sao bằng 1/4 chều cao lá cờ; bán kính trong bằng 1/3 bán kính ngoài.

Ý nghĩa:
- Ba màu đỏ, trắng, đen của lá cờ vốn là màu cờ của Đệ Nhị Đế Chế Đức (sắt và máu), ba màu này cũng được Đệ Tam Đế Chế Đức sử dụng, và đến ngày nay đã trở thành màu sắc tiêu biểu của phong trào phát xít trên toàn thế giới chứ không đơn thuần là của Đệ Tam Đế Chế nữa. Tuy nhà nước phát xít Việt không hoàn toán tán đồng tư tưởng của Đệ Tam Đế Chế, đặc biệt về vấn đề chủng tộc, nhưng tổ hợp ba màu đỏ, trắng, đen vẫn được sử dụng để thể hiện mối liên kết về ý thức hệ với các phong trào phát xít trên toàn thế giới. Tuy nhiên, từng màu sắc trong tổ hợp màu sẽ được mang những ý nghĩa mới, khác biệt so với trong màu cờ nguyên thủy của các Đế Chế Đức, như sẽ được trình bày lần lượt sau đây.
- Nền cờ màu đỏ tượng trưng cho toàn thể nhân dân của đất nước, tuy bao gồm nhiều chủng tộc nhưng tất cả đều mang cùng một dòng máu đỏ. Đây cũng là màu duy nhất xuất hiện, với vai trò chủ đạo, trên cả ba lá cờ hiện tại của ba nước Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia).
- Chữ thập trắng chia lá cờ làm bốn phần: góc trên bên trái nền đen tượng trưng cho vị thế lãnh đạo của Đảng Phát Xít, còn ba phần đỏ còn lại tượng trưng cho ba dân tộc chính cấu thành nên nước cộng hòa là Việt, Lào, Khmer. Màu trắng ở giữa các khối đỏ cũng tượng trưng cho hòa bình, hòa hợp, và thống nhất giữa các dân tộc trong nước.
- Chữ thập đen nằm trong chữ thập trắng, tạo thành một chữ thập đen viền trắng, lấy cảm hứng từ “Chữ thập sắt” của nhà nước Phổ và của nước Đức, thể hiện sức mạnh quân sự của nhà nước phát xít, được dùng để bảo vệ uy quyền của nhà nước và quyền lợi của quốc gia trước kẻ thù bên trong cũng như bên ngoài. Bốn cánh tay của chữ thập vươn dài từ trung tâm ra đến các cạnh của lá cờ, thể hiện tầm bao trùm, ảnh hưởng của nhà nước phát xít trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội của đất nước. Ngoài việc diễn tả khuynh hướng quân sự hóa của nhà nước phát xít, chữ thập sắt còn thể hiện quyết tâm sắt thép của toàn thể nhân dân cùng đoàn kết xây dựng nên một xã hội phát xít lý tưởng, phồn vinh và hạnh phúc.
- Góc trên bên trái (canton), vị trí đặc biệt trang trọng của lá cờ, là một ngôi sao trắng mười hai cánh trên nền đen, tượng trưng cho lý tưởng phát xít và chủ nghĩa quốc gia. Ngôi sao mười hai cánh là hình ảnh mặt trời ở giữa mặt trống đồng thời cổ, biểu tượng cho chủ nghĩa quốc gia và nguồn gốc của dân tộc. Cũng cần phải lưu ý rằng “nguồn gốc” này không phải của riêng người Việt: trống đồng là một biểu tượng văn hóa chung của đại cộng đồng các dân tộc thời cổ đại sống về phía nam địa bàn Hoa Hạ, do đó nó tượng trưng cho nguồn gốc chung của toàn thể các dân tộc ở Đông Dương, và sự thống nhất của các dân tộc trong một nhà nước phát xít. Con số mười hai, trong văn hóa Đông phương, là con số thể hiện sự viên mãn tròn đầy của lịch sử (số tháng tròn một năm), đồng thời đa phần các mặt trời trên những trống đồng được tìm thấy mang số cánh này.
- Về ý nghĩa nền đen của canton, nếu giải thích dựa trên ý thức hệ của Đảng Phát Xít, thì nền đen của canton tượng trưng cho sắt, còn màu trắng của ngôi sao tượng trưng cho thép, tất cả nói lên rằng Đảng Phát Xít là một tập ưu tú của những con người mang ý chí sắt đá (canton đen) từ trong nhân dân (nền cờ đỏ), tập trung quanh một tổ chức lãnh đạo ưu tú (ngôi sao thép). Theo một cách giải thích khác, tuy không hợp lý lắm, thì ngôi sao trắng trên nền đen cũng thể hiện vai trò của Đảng Phát Xít trong công cuộc lãnh đạo nhân dân vượt qua màn đêm u tối của lịch sử để tiến tới một tương lai ngời sáng vinh quang.

2007/05/03

Thơ xuân của bạn tôi

Mùa xuân

Mùa xuân chắc cũng đã về rồi
Một mình hai ly rượu song đôi
Một nửa bóng xuân qua cửa sổ
Một nửa chôn vùi chốn xa xôi.

Ta tự trách mình sao bất lực
Giữa cuộc đời vất vả bon chen
Chẳng thể giang tay ra giúp đỡ
Người đi mắt ướt lệ ta hoen.

Mùa xuân lại đến có vui không?
Chị đang tìm lấy một tấm chồng
Kẻo rồi ba mùa xuân nắng gió
Sẽ hết môi son với má hồng…

Bất Giới

o0o

Vẻ đẹp tươi tắn của mùa xuân thật không gì sánh được, khi cỏ hoa đua nở, đất trời tươi thắm, khi con người và vũ trụ cùng giao hòa trong nguồn sống dạt dào của năm mới. Mùa xuân cũng là lúc con người cởi mở tấm lòng của mình với những người thân thiết xung quanh. Vì thế, khi nhắc đến mùa xuân, người ta dễ dàng nghĩ đến những tiếng cười tiếng nói, những câu đối đỏ bánh chưng xanh, và nhất là niềm vui sum họp.

Nhưng cũng chẳng thiếu gì những con người lạc lõng giữa đất trời vũ trụ. Mùa xuân đến, họ đã chẳng vui thì chớ, lại càng thêm ảo não âu sầu mà thốt lên: “Tôi có chờ đâu, có đợi đâu: đem chi xuân lại gợi thêm sầu?” Họ chẳng cảm nhận được vẻ đẹp của mùa xuân thiên nhiên, cũng chẳng được hưởng niềm vui xuân của con người. Khốn khổ thay cho họ! Khi đọc bài thơ “Mùa xuân” của nhà thơ Bất Giới, tôi chợt nhận ra nhà thơ đúng là một người như vậy…

Cảm giác mơ hồ lạc lõng đó của tâm hồn đã xuất hiện ngay ở mở đầu bài thơ, khi nhà thơ viết:

Mùa xuân chắc cũng đã về rồi.

Mùa xuân không phải “sắp về”, nhưng mà “đã về” đây, đang rõ ràng hiện diện, lặng lẽ thấm đượm trong trời đất Hà thành ngày giáp tết. Nhưng sao nhà thơ lại viết: “mùa xuân chắc cũng đã về rồi”? Lẽ nào nhà thơ không chắc chắn về sự hiện diện của mùa xuân quanh mình? Nhà thơ may ra chỉ có thể cảm nhận được mùa xuân qua sự nhạy cảm của tâm hồn thơ, qua những rung động khi giao hòa cùng trời đất. Mùa xuân dường như không hiện diện bên ngoài tâm hồn nhà thơ. Phố phường vẫn nhộn nhịp như mọi ngày, nhân gian vẫn cát bụi bon chen, vẫn đầy những vui buồn thường nhật, chẳng có dấu hiệu gì báo cho nhà thơ biết là mùa xuân đã đến. Mà nếu có một dấu hiệu nào đó, chắc gì nhà thơ đã nhận ra? Nhà thơ đang vùi cõi lòng mình vào trong những nỗi niềm, tâm sự riêng.

Mùa xuân chắc cũng đã về rồi
Một mình hai ly rượu song đôi
Một nửa bóng xuân qua cửa sổ
Một nửa chôn vùi chốn xa xôi.

Khi cõi lòng u uất, con người, nhất là những nhà thơ, thường lấy rượu để giải nỗi muộn phiền. Những nhà thơ kế thừa di phong của Lý Thái Bạch “cao ngâm đại túy tam thiên thủ” như Bất Giới tiên sinh lại càng mê rượu hơn. Chén rượu của Bất Giới tiên sinh ở đây không chỉ đơn thuần là chén rượu giải phiền, mà còn là chén rượu đón xuân. Nhà thơ đã giải thích việc uống rượu bằng lý lẽ: “mùa xuân chắc cũng đã về rồi”. Xuân về thì có rượu đón xuân, cũng như xuân đi thì có rượu tiễn xuân – những nhà thơ mê rượu luôn có những lý lẽ nhằm giải thích cho việc uống rượu quanh năm suốt tháng của mình. Nhưng cách uống rượu của Bất Giới tiên sinh thật bất thường:

Một mình hai ly rượu song đôi.

Câu thơ đầu tiên đã bất thường, câu thơ thứ hai đọc lên lại càng bất thường. Lý Thái Bạch dù phóng khoáng ngút trời cũng chỉ dám “cử bôi dữ minh nguyệt, đối ảnh thành tam nhân”, nghĩa là chung quy chỉ một mình một chén. Còn Bất Giới tiên sinh uống rượu giữa mùa xuân về, lại một mình rót những hai ly rượu! Người đọc sẽ thắc mắc tự hỏi: ly rượu thứ nhất nếu dành cho nhà thơ, thì chẳng biết ly rượu thứ hai dành cho ai? Có phải nhà thơ rót sẵn hai ly rượu để chờ ai đó đến cùng đối ẩm chăng? Nếu quả thực như vậy thì người mà nhà thơ đang ngóng đợi hẳn phải là một người rất thân quen đối với nhà thơ, vì hai ly rượu ấy không phải là hai ly rượu bất kỳ, mà là hai ly rượu “song đôi”. Hai chữ “song đôi” gợi lên một hình ảnh tròn đầy toàn vẹn theo truyền thống. Người đối ẩm với nhà thơ có phải chăng là một tri âm bằng hữu, hay là một tri kỷ hồng nhan? Và người ấy ở đâu bây giờ, sao không đến đối ẩm cùng nhà thơ, khiến cho nhà thơ phải một mình đối diện với hai ly rượu song đôi? Hình ảnh “một mình” và hình ảnh “hai ly rượu song đôi” được đặt liền bên cạnh nhau tạo ra một sự đối lập mạnh mẽ. Người đọc có thể cảm nhận được sự tương phản giữa một bên là hình ảnh đoàn viên toàn vẹn của hai ly rượu song đôi, còn một bên là sự lẻ loi cô quạnh của nhà thơ, con người đang một mình cô độc ngồi nhìn hai ly rượu. Quả thật, lời thơ có nhắc đến “ly rượu” nhưng không hề nhắc đến việc uống rượu, khiến cho người đọc hình dung ra khung cảnh nhà thơ ngồi ngẩn ngơ trước hai ly rượu mà không nỡ nhấp môi. Bao nhiêu nhà thơ đã từng như Phạm Hy Văn, uống rượu mà than thở: “tửu nhập sầu trương, hóa tác tương tư lệ”. Còn Bất Giới tiên sinh chưa kịp nhấp một giọt rượu nào mà trong lòng đã thấm thía đắng cay rồi. Như thế thì còn gì là uống rượu mừng xuân nữa?

Một nửa bóng xuân qua cửa sổ
Một nửa chôn vùi chốn xa xôi.

Cái cảm giác ngỡ ngàng lẻ loi của nhà thơ từ câu thơ thứ hai lại chuyển xuống hai câu thơ kế tiếp, không giảm bớt chút nào. Hai chén rượu thành đôi thành cặp, còn nhà thơ thì lẻ loi một mình, việc ấy cũng đã đành. Đến mùa xuân đang về cũng không còn toàn vẹn, mà phân thành hai nửa chia ly, phải hiểu ra sao đây? Có phải một nửa của mùa xuân đã đi theo bóng người nhà thơ đang thương đang nhớ, khiến cho còn lại đây, bên khung cửa này, chỉ có một nửa mùa xuân? Không phải là mùa xuân ra đi đâu, ấy chính là một nửa con người, nửa tâm hồn của nhà thơ đã gửi theo bóng hình thăm thẳm ở tận “chốn xa xôi”. Nếu hình ảnh “một” đặt bên cạnh hình ảnh “song đôi” tạo ra cảm giác lẻ loi vô cùng, thì hình ảnh của nửa mùa xuân ấy càng khiến ta cảm thấy cô độc thiếu thốn đến đâu?

Nếu có ai lạc quan đã vội mừng cho nhà thơ vẫn còn giữ được một nửa mùa xuân, một nửa tâm hồn, ấy là người ấy hơi mừng vội. Một nửa mùa xuân ở lại, chắc là nhà thơ chẳng cảm nhận được bao nhiêu, bởi vì nửa mùa xuân ấy cũng đã vụt qua nhanh như bóng câu bên cửa. Nhân sinh như mộng! Mùa xuân vẫn dào dạt quanh đây, thế mà đối với nhà thơ, nửa mùa xuân ấy thoắt trôi qua chẳng còn gì, có khác nào như mùa xuân trong câu hát “Mộc lan hoa mạn” đời xưa:

Toán xuân sắc tam phân
Bán tùy lưu thủy, bán nhập trần ai.

Thật sự thì cái mà nhà thơ thiếu không phải là mùa xuân. Nhà thơ chỉ lấy mùa xuân ra làm bung xung để che giấu sự thiếu thốn thật sự trong lòng: đó là một sự đồng cảm, một người đồng cảm. Sự đồng cảm giữa hai tâm hồn chính là mùa xuân của cuộc đời, mà thiếu nó thì cuộc đời dường như không còn niềm vui, ý nghĩa. Phải chăng con người ai cũng mải miết đi tìm một tâm hồn đồng cảm, mà đã mấy ai tìm được? Nhưng nỗi đau khổ bất hạnh của nhà thơ còn lớn gấp bội lần những tâm hồn đơn lẻ đó, vì dường như nhà thơ đã tìm thấy được một nửa tâm hồn của mình, nhưng rồi lại để mất!

Ta tự trách mình sao bất lực
Giữa cuộc đời vất vả bon chen
Chẳng thể giang tay ra giúp đỡ
Người đi mắt ướt lệ ta hoen.

Trong khổ thơ thứ hai ấy, nhà thơ đã nói lên tình cảnh của mình với một sự chuyển ý đột ngột, ít có mối liên hệ về ý với khổ thơ trước. Đó là một lời tự trách, bởi khi sử dụng đại từ “ta”, nhà thơ đang tự nói với riêng mình, và có lẽ cũng chẳng quan tâm gì đến xung quanh. Dường như xúc cảm đó cũng chỉ đột ngột bật ra trong khi nhà thơ đang ngồi giữa mùa xuân hoang vắng, lẻ loi ngắm hai ly rượu song đôi, và thấm thía được nỗi đau riêng mình; điều đó giải thích vì sao luồng thơ đột ngột chuyển ý mà không hề có dấu hiệu báo trước.

Ta tự trách mình sao bất lực
Giữa cuộc đời vất vả bon chen
Chẳng thể giang tay ra giúp đỡ

Trái với mật độ hình ảnh ý nghĩa dày đặc trong khổ thơ đầu, những câu thơ này lại có vẻ như loãng quá, suông quá, cứ trôi đi không biết có để lại chút gì. Đọc lên, những dòng thơ đi liền một mạch, dường như đó chỉ là một câu khẩu ngữ thông thường, nhẹ nhàng, hợp âm luật, nhưng lại nhạt nhòa như làn gió thoảng. Vâng, đó chỉ là một làn gió, đúng hơn là một dòng suy nghĩ trôi qua tâm trí âu sầu của nhà thơ, không hoa hòe, điệu đàng như một thiếu nữ thời Heian, cũng chẳng thẹn thò ẩn nấp sau những thủ pháp nghệ thuật. Nhưng nhờ thế, đó lại là những suy nghĩ chân thật, xuất phát trực tiếp từ trong tâm khảm, bởi những cảm xúc trực tiếp nhất luôn mang nét đơn giản bình dị của con người bình thường.

Trong những câu thơ ấy không có nhắc đến sự mất mát tình cảm mà nhà thơ đang cảm nhận. Nếu những câu thơ là những dòng suy tưởng tự do, thì việc đề cập đến nỗi mất mát đó là không cần thiết đối với nhà thơ. Điều đó hẳn chỉ có lợi cho chúng ta, những người đọc đang muốn phân tích tâm trạng của nhà thơ; nhưng nhà thơ nào có quan tâm gì đến người đọc! Suốt cả bài thơ, nhà thơ chẳng quan tâm đến chuyện gì khác, cả mùa xuân lẫn thế giới ngoại quan. Nhà thơ chỉ chìm đắm trong nỗi niềm riêng của mình thôi. Nhà thơ đang tự trách mình đã không có đủ khả năng chống chọi lại những xô đẩy vùi dập của cuộc đời, để giữ lại một tâm hồn tri kỷ. Khi trách mình “Chẳng thể giang tay ra giúp đỡ”, hẳn là nhà thơ cho rằng trong một hoàn cảnh nhất định, nếu mình tích cực hơn, chủ động hơn, thì có thể thay đổi được sự thật chăng? Mà cũng không hẳn là nhà thơ tự trách mình tất cả, khi người lại đổ lỗi cho “cuộc đời vất vả bon chen” làm nguyên nhân chính của nỗi biệt ly. Nhà thơ đáng thương! Dù sao người cũng không thể hết cảm thấy hối hận day dứt vì đã không chủ động hơn, mạnh mẽ hơn để chống lại dòng trôi cuộc đời. Nỗi day dứt đó cuối cùng đã bộc phát ra thành những giọt nước mắt tuy lặng lẽ nhưng chan chứa đắng cay.

Câu thơ “Người đi mắt ướt lệ ta hoen” ấy nằm cuối khổ thơ, và có vẻ như đứng một mình lạc lõng, không gắn kết gì với ba câu thơ còn lại trong khổ. Điều này có thể là do câu thơ cuối mang nhiều nét thi vị rõ ràng hơn các câu trước, và cũng có thể là do sự đứt quãng trong dòng suy tưởng. Nhưng chính câu thơ ấy lại là cao điểm của khổ thơ, nơi những xúc cảm tích tụ đã thể hiện bằng những dòng nước mắt của chính nhà thơ.

Khi đọc câu thơ lẻ loi ấy, người đọc có thể hiểu: cả người đi lẫn người ở lại đều hoen lệ. Nhưng với cấu trúc lấp lửng, câu thơ cũng có thể được ngầm hiểu rằng: nước mắt của nhà thơ đang hoen ướt trên đôi mắt của người ra đi! Phải chăng điều đó biểu sự khắng khít tiến đến hiệp nhất của hai tâm hồn đồng cảm? Hỡi ôi! Hiểu câu thơ như thế nào, đối với nhà thơ cũng không còn quan trọng nữa, khi mà tâm hồn ấy đã bỏ nhà thơ mà ra đi. Mà không, không phải người ấy bỏ nhà thơ đâu. Rõ ràng nhà thơ không hề muốn và cũng không thể trách móc người ấy vì đã gây ra nỗi đau trong lòng mình. Đó là do cuộc đời đã cuốn người ấy đi xa khỏi nhà thơ, mà nhà thơ lại bất lực không thể đưa tay ra níu lại… Ấy, nhà thơ trách mình, nhà thơ trách đời, chứ đối với người ấy, nhà thơ luôn thể hiện một nỗi niềm trân trọng và thông cảm sâu xa…

Nhưng việc chia ly đã diễn ra trong quá khứ, còn hiện tại, nhà thơ đang lẻ loi một mình trong nỗi u hoài. Những giọt lệ của người ra đi không biết đã khô chưa, còn những giọt lệ của nhà thơ mãi đến bây giờ vẫn còn ướt hoen khóe mắt. Có lẽ những giọt lệ của nhà thơ vẫn còn hoen đôi mắt từ khi người ấy ra đi đến mãi bây giờ. Mắt ướt, lệ hoen, tất cả là những biểu hiện của một xúc cảm kín đáo, nhẹ nhàng. Nhưng sự kín đáo nhẹ nhàng đó làm sao che giấu được những chất chứa vô vàn trong lòng nhà thơ? Không còn nghi ngờ gì nữa, đây chính là câu thơ hay nhất của bài thơ, là đỉnh cao cảm xúc của nhà thơ.

Từ trên đỉnh cao ấy, nhà thơ lại rơi xuống, bằng một sự đứt đoạn, chuyển ý đột ngột nữa, dưới tác động của dòng suy tưởng:

Mùa xuân lại đến có vui không?
Chị đang tìm lấy một tấm chồng
Kẻo rồi ba mùa xuân nắng gió
Sẽ hết môi son với má hồng…

Cũng nên nhắc ngay rằng không phải là nhà thơ cuối cùng đã nhận ra sự hiện diện của mùa xuân đâu. “Mùa xuân lại đến có vui không?” là một câu hỏi, những cũng khó biết được nhà thơ đang hỏi ai. Nếu theo dòng suy tưởng mà xem xét, thì có lẽ nhà thơ đang đặt câu hỏi cho chính mình. Nhưng biết đâu nhà thơ đang hỏi thăm về người ở xa, hoặc cũng có thể nhà thơ chỉ thốt lên bâng quơ chẳng để hỏi ai…

Chị đang tìm lấy một tấm chồng
Kẻo rồi ba mùa xuân nắng gió
Sẽ hết môi son với má hồng…

Còn có một cách hiểu nữa, đó là nhà thơ đang tự khuyên nhủ lòng mình phải vui lên. Lý do mà nhà thơ đưa ra để vui sống là vì mùa xuân đã trở về. Thật là tự huyễn hoặc mình đấy! Nhà thơ vốn chẳng biết đến sự hiện diện mùa xuân đâu. Nếu quả thực mùa xuân là biểu tượng của tâm hồn đồng cảm, của người đã đi xa khuất, thì lý do thực sự mà nhà thơ tự khuyên mình nên vui lên là vì hạnh phúc của người ấy. Hỡi ôi! Nhà thơ dường như vẫn còn tự huyễn hoặc mình! Những câu thơ mang mùi vị chua chát nhẹ nhàng của phong thái đau thương “có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…” lại là những câu thơ vui thế nào được?

Thì ra người ấy đi lấy chồng! Người ấy không biết có phải là chị của nhà thơ thật hay không. Nhà thơ gọi người ấy là “chị”, có lẽ để tránh sự hiểu lầm, kẻo một độc giả nào đó cắc cớ lại cho rằng người ấy là người yêu của nhà thơ. Dụng ý của nhà thơ khá rõ: người muốn tách biệt tình cảm lưu luyến đơn thuần giữa hai người tri kỷ ra khỏi những tình cảm khác như tình cảm luyến ái nam nữ, vốn có thể làm biến chất tình cảm gốc. Tình cảm của nhà thơ không phải là của một người bị phụ tình. Ngược lại, người rất đỗi thương cảm và thông cảm với người chị ấy.

Kẻo rồi ba mùa xuân nắng gió
Sẽ hết môi son với má hồng…

Lại một cảm nhận về sự vô thường của tạo vật, của cái đẹp! Có người hẳn sẽ nghĩ nhà thơ là một người thấu hiểu lẽ biến suy của Phật pháp. Quả thật Bất Giới tiên sinh là một vị cao tăng, nhưng có lẽ người chưa đạt đến mức đắc đạo hoàn toàn, vì vẫn còn muốn níu kéo những gì đã qua. “Kẻo rồi ba mùa xuân nắng gió, sẽ hết môi son với má hồng…” Hai câu thơ đọc lên, tuy có ít nhiều thông cảm, nhưng vẫn như một nỗi niềm luyến tiếc khôn nguôi.

Người ấy cũng như nhà thơ, cả hai người đều đã không cưỡng lại được dòng trôi của thời gian, của cuộc đời. Hình ảnh “cuộc đời vất vả bon chen” mà nhà thơ phải gánh chịu, với hình ảnh “ba mùa xuân nắng gió”, phải chăng cũng là một mà thôi? Ở điểm này, có lẽ hình ảnh “ba mùa xuân nắng gió” đã khiến cho người đọc phải suy tư thắc mắc. Con số ba, một con số rất thơ, tượng trưng cho số nhiều, chi tiết này có thể hiểu được. Nhưng còn “mùa xuân” sao lại đi liền với “nắng gió”, một mùa tươi đẹp sao lại gắn liền với gió bụi cuộc đời vốn làm cho con người tàn tạ? Có phải vì mỗi mùa xuân sang, tuy tươi đẹp thật (tươi đẹp khách quan, chứ đối với nhà thơ thì mùa xuân cũng thú vị gì đâu) nhưng cũng là dấu hiệu thời gian trôi đi, con người già đi, sự vật qua đi… Đó là sự đổi thay mang tính quy luật, sự chóng qua của cái đẹp, của cuộc đời mà không ai có thể ngăn lại được. Nhưng chính nhà thơ, một vị cao tăng thông hiểu Phật pháp, sao lại không muốn hiểu chân lý khách quan này? Đối với nhà thơ, vẻ đẹp môi son má hồng phải nhạt phai suy tàn là do những nắng gió của cuộc đời, chứ không phải là do thời gian trôi qua khôn níu lại… Thật là cố chấp! Những trong sự cố chấp ấy là cả một khát khao, ước vọng muốn cưỡng lại sự vô thường của nhân thế, một ước vọng điên cuồng và chắc chắn sẽ đưa đến thất bại (vì xưa nay có ai thành công đâu?) nhưng ước vọng ấy chẳng thật đẹp hay sao, và người có khát khao ước vọng ấy chẳng đáng thương cảm vô cùng hay sao? Có lẽ vì nhà thơ đã thể hiện những khát khao thầm kín của con người hộ cho mỗi chúng ta, những người lẽ ra cũng có những khát khao như thế, nếu như không bị sự cam chịu và an phận tầm thường phủ lấp.

Liệu đã đến lúc đưa ra một kết luận chung về toàn bài thơ? Trong khi khổ thơ đầu là một cảm nhận riêng tư, thì hai khổ thơ sau lại là hoàn cảnh độc thoại, và riêng khổ thơ thứ ba lại mang nhiều chất bâng khuâng xa vắng hơn là khổ thơ thứ hai vốn đầy day dứt khổ đau. Trong khi phần đầu bài thơ trĩu nặng ý tưởng thì phần cuối lại ơ hờ lỏng lẻo. Ba khổ thơ của bài thơ có vẻ như khá rời rạc, không có chất kết dính với nhau bằng những biện pháp tu từ cũng như bằng ý thơ. Nhưng người đọc cũng nên thông cảm cho hoàn cảnh của Bất Giới tiên sinh: trong những tâm trạng rối bời, hoang mang ấy, cũng khó có người nào có thể nói năng một cách rõ ràng và lưu loát như đọc diễn văn. Ít ra nhà thơ cũng đã cố gắng sử dụng một thứ ngôn ngữ đơn giản dễ hiểu, gần với khẩu ngữ, để diễn tả chân thực nhất nỗi lòng của mình.

Nỗi lòng của nhà thơ là một sự bế tắc trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa sự hữu hạn của con người và sự đổi thay không thể cưỡng lại của vạn vật. Do đó, ảnh hưởng của bài thơ có phần tiêu cực, nhưng có mấy ai lại không có một chút bi quan tiêu cực như thế? Điều quan trọng là những tình cảm ấy hoàn toàn là những phản ánh chân thực và chính xác từ trong cõi lòng nhà thơ. “Tưởng kẻ viết là một nhà văn, không ngờ lại được gặp một người” (Pascal). Việc sử dụng ngôn từ để diễn tả một cách hiệu quả nhất cõi lòng con người không phải là mục đích tối thượng của thơ ca hay sao? Nếu xét theo khía cạnh đó, thì mặc dù còn nhiều khiếm khuyết, nhưng “Mùa xuân” có thể coi là một bài thơ hay, với những day dứt vẫn còn đeo đuổi người đọc mãi:

Người đi mắt ướt lệ ta hoen…

2003/??/??

From the new Jyllands-Posten case: some personal comments

In an academic speech in the unversity where he once taught as a professor, Ratzie quoted some statement from a Byzantine Emperor – I hardly remember his name, Manuel II Palaiologos (hopefully I wouldn’t misspell it) — which he carefully distance himself from those quoted words, and nonetheless sparked the hot-headed Muslims around the world. So cool, isn’t it? I can’t help relate this event with the Jyllands-Posten cartoons case in the early of the year. It is undeniable however that the religion of Islam is on the creek of its development and it must choose one in the two ways: Does it advocate peace, or does it support violence and suppressive domination? And from what I’ve seen in this modern world, I guess that they are choosing the latter.

The Muslim world is dominated by fundamental influences

Some people may point out that the number of Muslims who support violence and terror against other religions and cultures are much smaller than the number of Muslims who do not, which I but partly agree. But where are the Muslims that favor peace than terror? Where are their voices that I couldn’t hear? The majority of voices and ideas I can hear from the Muslim world advocate for terror, threatening and domination over other religions, cultures, and thoughts. Moderate Muslims, where are you, if you are not a pitiful minority in your own community?

It is possible that radically fundamental Muslims are not a majority among Muslims, but it is also so obvious that their voices dominate the opinion of the worldwide Muslim world, and perhaps that’s why the voices of the “moderate” Muslims are almost left unheard. There are the religious leaders, political leaders, imams, intellectuals, students, and they all cry out about war and hostility towards the Christendom — their warcry can be heard around the world, influencing other fellow Muslims and call them to the clash against the Christians.

Peace or war?

Despite of the fact Muslim terrorists dominate the headlines of the world’s magazines, the Muslims usually preach that Islam is a religion of peace, not war. They cited from the Q’ran the teachings of peace and toleration between the pages, and ignore the teaching of war and violence and in the very next surah. But a religion differs from a thought because the teachings must be materialized. One does not only believe in or follow a religion, he must also live it. Are the Muslims, at least the top-ranked Muslims whose opinions dominate the whole religious community, living their religion, or at least let their fellow live their religion justly?

It has been so ironical that many Muslim political and religious leaders protest Ratzie’s quoting from the Byzantine Emperor — God bless him, since I forgot his name again — that Islam was spread by the sword, insisting that this has never been the truth, and at the same times call up the Muslims to take reprisals. The bombing of churches, the murdering of Christians, the death threats to Ratzie. By that violent responses the Muslims only help to show the world that what the Byzantine Emperor had said IS true. OR… or it seems that the fundamental Islamists want to prove that their religion is not a religion of the sword, but a religion of the gun and the bomb. If it was the case, I believe that they are undoubtedly successful.

Ratzie’s truth distorted

The radical reaction of the Muslims around the world towards the Christendom also show that most of them are idiotic fanatics, prone to be aroused by their leaders. Many of them did not even know what Ratzie had precisely said. In this case, the Muslims leaders distorted the truth, or more exactly, they lied, again just like in the Jyllands-Posten case. They had “invented” outraging cartoons which could never be found on Jyllands-Posten, without feeling shameful; there is no surprise that they could pull an academic statement out of its specifically academic context and distort it. Ratzie quote is not something he agrees with, and people have misinterpreted his remarks He did show regrets – so great he is – that his quotation caused misinterpretation and misunderstanding among Muslims, but it was not his idea, and he does not need to, and can not, apologize for a saying of a Byzantine Emperor living in the 14th century. It was not his own comment about Islam anyway, so why did the Muslims protest against “his” comment? Which comment? Ratzie’s comment, or Emperor Manuel II’s comment?

Anyway, Ratzie had behaved so justly and rightly in such an intense situation. He did apologize, expressing his deep regret for the anger and violence caused by his act of quotation. That apology showed his willingness to conciliation and the pacifist characteristics of Christianity, which are so contrary to the violent demonstrations of the Muslims in reaction of his academic speech. We can also compare that humble deed of the Pope to the provocative arrogance of the Western press in the Jyllands-Posten case against the same threat from the Muslims… In the other hand, he did not apologize for the act of academic quotation itself at the request of the Muslim world, considering freedom of reason an unalienable right — and responsibility — of the humankind granted by the Creator. Ratzie is not only the martyr of Truth and Freedom, it can also be said that he is making the stand defending the values of the West against the assaults of Islam, in his peaceful and dignified manner, with no sword and shield in hand. In short, Ratzie did show fratenity, not fear, towards his Muslim brothers. He always seeks conciliation and conversation between religions, but never bows down before the threat of fanatic violences from the Muslim world. And I believe Ratzie has shown that he was a Pope worth to be respected and loved by all Roman Catholics as well as our Christian brethrens.

2006/09/20

Viên Viên Khúc và nỗi bi cảm về thân phận con người trong lịch sử

Mặc dù nhân sĩ đời Minh mạt Thanh sơ Ngô Vĩ Nghiệp (1609 – 1672) tự Tuấn Ông, hiệu Mai Thôn có khá nhiều trước tác có giá trị, nhưng trong số đó thì bài thơ trường thiên “Viên Viên khúc” chính là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông. Được đánh giá là thi phẩm trường thiên kiệt xuất bậc nhất trong lịch sử thi ca Trung Quốc kể từ sau tác phẩm “Trường hận ca” của thi nhân đời Đường Bạch Cư Dị trước đó tám trăm năm, bài thơ “Viên Viên khúc” cũng được sáng tác dựa trên đề tài lịch sử, tương tự như trường hợp của “Trường hận ca”. Nhưng đặc biệt hơn, hai nhân vật chính trong bài thơ, Trần Viên Viên (1624 – 1681) và Ngô Tam Quế (1612 – 1678), lại là hai nhân vật đương thời, là đồng hương với tác giả, sống cùng thời với tác giả, và có lẽ là họ cũng quen biết tác giả cũng nên.

Toàn bài thơ kể lại cuộc đời chìm nổi đầy bị thảm và cay đắng của Trần Viên Viên, một giai nhân tuyệt thế đời Minh mạt. Nàng tên thật là Hình Nguyên, người Tô Châu, thuở nhỏ đã bị bắt làm kỹ nữ ở Lệ Xuân Viện, sắc đẹp tuyệt trần, tài hoa quán thế. Ngoại thích họ Điền mua nàng về để dâng lên vua Sùng Trinh, nhưng nhà vua chỉ quan tâm chính sự, không ham mê nữ sắc nên trả nàng về cho họ Điền. Về sau Ngô Tam Quế say mê Trần Viên Viên nên xin cho chuộc nàng ra, và cưới nàng làm vợ. Ngô Tam Quế được phái đi trấn thủ Sơn Hải Quan để ngăn chặn quân Thanh vào cõi, còn Trần Viên Viên ở lại Bắc Kinh trong nỗi ngóng trông mòn mỏi. Ngờ đâu khói bụi chinh chiến lại nổi lên, nghĩa quân của Sấm Vương Lý Tự Thành đánh vào Bắc Kinh, vua Sùng Trinh treo cổ tự vẫn ở Môi Sơn. Lý Tự Thành bắt giam cả gia quyến Ngô Tam Quế và yêu cầu Ngô Tam Quế quy phục. Ban đầu Ngô Tam Quế có ý định đầu hàng Lý Tự Thành, nhưng khi nghe tin vợ mình là Trần Viên Viên đã bị bộ tướng của Lý Tự Thành là Lưu Tông Mẫn bắt làm tỳ thiếp, thì chàng đùng đùng nổi giận, cất quân bản bộ hợp sức với quân Thanh vào cõi, đánh bại Lý Tự Thành, giành lại người vợ yêu từ tay giặc. Nhà Thanh thu về được thiên hạ, phong Ngô Tam Quế làm Bình Tây Vương, đi trấn thủ miền Vân Nam, Quý Châu, uy danh lừng lẫy, Trần Viên Viên cũng trở thành vương phi. Chuyện tình kỳ thú và nỗi bi hoan ly hợp của hai người đã trở thành một giai thoại nổi tiếng nhất đương thời.

Về nhân vật Trần Viên Viên trong bài thơ, tựu trung các ý kiến đều thống nhất cho rằng tình cảm mà Ngô Vĩ Nghiệp dành cho nhân vật này là cảm thông, thương xót, đồng thời thấu hiểu nỗi oan khuất của nàng với cái tiếng xấu “hồng nhan họa thủy” mà thiên hạ gán cho. Thật ra, cái nhìn cảm thông và bao dung đối với phụ nữ là phù hợp với nhãn quan hện đại, và may thay vẫn chưa bị đề mốt… Nhưng khi bàn về nhân vật Ngô Tam Quế, người mà Trần Viên Viên đã gắn bó phần lớn cuộc đời đau khổ của nàng, thì các ý kiến lại không hề thống nhất, vì trên thực tế, Ngô Tam Quế là một nhân vật khá phức tạp. Có nhiều ý kiến cho rằng bài thơ này thông qua mối buồn vui tan hợp của Trần Viên Viên và Ngô Tam Quế để châm biếm hành vi “phản quốc” của Ngô Tam Quế. Tuy nhiên, người viết đọc trong toàn bài thơ không hề thấy có ý châm biếm hay đả kích gì. Ngược lại, hình ảnh Ngô Tam Quế trong bài thơ được khắc họa với những nét đẹp đẽ hùng tráng nhiều khi có thể làm rung động lòng người.

Đọc các câu thơ đầu tiên, người đọc cảm nhận thấy ngay một uy vũ dồn dập: “Đỉnh hồ đương nhật khí nhân gian/ Phá địch/ thu kinh/ há Ngọc quan/ Đỗng khốc lục quân câu cảo tố“, thật là phù hợp với cái khí thế ào ào tiếp ngay sau đó của “Điện tảo Hoàng Cân/ định Hắc Sơn/ Khốc bãi quân thân/ tái tương kiến“. Các sự kiện lịch sử diễn ra quá nhanh, quá liên tục, khiến cho người đọc như bị ào ạt cuốn đi theo dòng chảy ấy. Người đọc còn thế, huống chi là nhân vật anh hùng, người xuất hiện ở câu thơ thứ tư với hình ảnh độc đáo lạ thường: “Xung quan nhất nộ vị hồng nhan!” Xưa kia người thích khách Kinh Kha cũng đã dựng cả tóc dưới mũ trên bờ sông Dịch, trong buổi tiễn hành lên đường một đi không trở lại, một lần ra đi trừ diệt vua Tần tàn bạo cho cả thiên hạ được nhờ. Còn tướng quân Ngô Tam Quế cũng bừng giận dựng tóc y như thế, nhưng đâu phải vì thiên hạ, mà lại vì hồng nhan! Rõ ràng là trong con mắt của người anh hùng này, cái thiên hạ mà bao người lăm le tranh đoạt kia đâu thể bằng được một mảnh má hồng.

Ngay bốn câu thơ đầu tiên, người đọc đã cảm nhận được hai điều: một là dòng lịch sử trôi đi ào ạt và mạnh mẽ cuốn trôi biết bao nhiêu nhân vật phong lưu xưa nay theo dòng chảy của nó; hai là ấn tượng hết sức “ngầu” về người anh hùng độc đáo Ngô Tam Quế. Dòng lịch sử ấy vẫn cuồn cuộn chảy mãi suốt bài thơ dài, chẳng khác gì dòng sông Hán chảy mãi về đông, và ấn tượng về Ngô Tam Quế cũng phát triển theo bài thơ, hình ảnh càng lúc càng rõ nét và đầy đủ hơn, và đồng thời cũng đẹp đẽ và rung cảm hơn. Từ hình ảnh “Xung quan nhất nộ vị hồng nhan” ban đầu ấy, người đọc làm quen với nhiều khía cạnh khác của Ngô Tam Quế, từ một chàng quý tộc trẻ trung trắng trẻo “Bạch tích thông hầu tối thiếu niên” đến một người anh hùng dày dạn và đa tình “Anh hùng vô nại thị đa tình“. Ai cũng có thể không rung động trước những hình ảnh thật hào hùng và cũng thật hào hoa của “Nhược phi tráng sĩ toàn sư thắng/ tranh đắc nga my thất mã hoàn“? Ai cũng có thể thờ ơ trước hoàn cảnh thật đẹp và nên thơ của tình huống “Nga my mã thượng truyền hô tiến” hay “Lạp cự nghênh lai tại chiến trường“?

Nói tóm lại, hình ảnh của Ngô Tam Quế hiện ra trong những vần thơ, trôi theo dòng chảy của thời cuộc, vẫn để lại một ấn tượng độc đáo và đẹp đẽ, hoàn toàn không có một vẻ châm biếm hay đả kích nào đối với nhân vật này. Ngay cả câu thơ “Thê tử khởi ưng quan đại kế/ Anh hùng vô nại thị đa tình” xưa nay vẫn thường được trích dẫn để chứng minh sự chê bai đối với hành vi thiếu trách nhiệm “vì tình lụy nước” của Ngô Tam Quế, thực ra cũng góp phần tô điểm thêm cho tính cách “anh hùng” của nhân vật này mà thôi. Đúng thế, anh hùng mà đa tình thì có sao đâu? Hơn nữa, một người anh hùng trong các truyện thuyết xưa nay nếu chẳng có đa tình đa cảm, thì hóa ra lại là một ông tướng khô khan chán ngắt hay sao? Anh hùng – đa tình, hai khái niệm này đã đi đôi với nhau từ lâu trong cách suy nghĩ truyền thống của người Trung Quốc giàu tình cảm rồi.

Mà thật vậy, làm sao Ngô Vĩ Nghiệp có thể lên án, châm biếm hay chê bai Ngô Tam Quế về hành vi “phản quốc” cho được, trong khi chính ông cũng đã ra làm quan cho nhà Thanh kia mà? Hoàn cảnh của Ngô Vĩ Nghiệp tuy ra làm quan cho nhà Thanh nhưng trong lòng vẫn bứt rứt hối hận không an vì quyết định của mình. Các danh sĩ người Hán đương thời hầu như ai cũng chất chứa trong lòng sự mâu thuẫn đó, và Ngô Vĩ Nghiệp cũng vậy. Có lẽ Ngô Vĩ Nghiệp tự cho mình cũng chỉ là một cá nhân nhỏ bé bị thời cuộc xô đẩy và chi phối, không thể làm chủ được vận mệnh và quyết định của mình. Và cũng có lẽ là ông muốn gửi gắm nỗi niềm day dứt đó thông qua số phận của hai nhân vật Trần Viên Viên và Ngô Tam Quế, hai nhân vật lịch sử mà đương thời là nổi danh nhất. Trần Viên Viên bị cho là “hồng nhan họa thủy” đã làm mất nhà Minh, còn Ngô Tam Quế thì bị kết tội phản quốc, nhưng theo quan điểm của Ngô Vĩ Nghiệp, thực ra hai người ấy cũng chỉ là những cá nhân, những con người, trôi theo dòng chảy thời cuộc, và bị dòng chảy thời cuộc ấy cuốn đi mà thôi. Cuộc đời trầm luân của Trần Viên Viên đã không phải do nàng làm chủ, điều ấy có thể được giải thích bởi lý lẽ rằng xưa nay hồng nhan thường bạc mệnh, nhưng còn bậc tu mi nam tử Ngô Tam Quế thì sao? Than ôi, Ngô Vĩ Nghiệp há cũng chẳng phải cũng là một bậc nam tử tu mi đầy đủ đó sao, và cũng đã không thể làm chủ vận mệnh và hành vi của mình đó sao?

Thời gian và số phận từ xưa đến nay đã khơi nguồn cho biết bao nhiêu cảm xúc bi hoài trong văn học. Không ai có thể cưỡng lại được thời gian; còn số mệnh, tức ý trời, theo phong cách hiện đại thì gọi là “thực tại khách quan” cũng chẳng thể đổi thay theo ý thích con người được. Và cả hai nguồn bi cảm đó đều xuất hiện và hòa quyện vào nhau trong tác phẩm “Viên Viên khúc”. Chính số phận đã tạo ra những anh hùng như Ngô Tam Quế, những mỹ nhân như Trần Viên Viên, và chính thời gian đã cuốn trôi họ đi theo dòng lịch sử. Qua bài thơ, bên cạnh những nội dung chính như nỗi cảm thương cho số phận trầm luân của người tài hoa và thái độ bênh vực và đề cao nữ giới, Ngô Vĩ Nghiệp còn thể hiện một quan điểm duy vật lịch sử tuy không đầy đủ nhưng cũng tương đối rõ rệt, bác bỏ cái nhìn cho rằng lịch sử được xây dựng trên những cá nhân; đồng thời với việc nhận thực sự biến chuyển tất yếu của lịch sử xã hội, ông cũng không thể tránh khỏi nỗi bi hoài trước số phận và khả năng quá đỗi giới hạn của con người trước dòng chảy lịch sử. Đó là một khuyết điểm về mặt nhận thức, nhưng đồng thời lại là một ưu điểm về khía cạnh trữ tình văn học của nhà thơ.

2004/12/09

o0o

Viên Viên khúc

Đỉnh hồ đương nhật khí nhân gian
Phá địch thu kinh há Ngọc Quan
Đỗng khốc lục quân câu cảo tố
Xung quan nhất nộ vị hồng nhan.

Hồng nhan lưu lạc phi ngô luyến
Nghịch tặc thiên vong tự hoang yến
Điện tảo Hoàng Cân định Hắc Sơn
Khốc bãi quân thân tái tương kiến.

Tương kiến sơ kinh Điền Đậu gia
Hầu môn ca vũ xuất như hoa
Hứa tương thích lý không hầu kỹ
Đẳng thủ tướng quân du bích xa.

Gia bản Cô Tô Cán Hoa Lý
Viên Viên tiểu tự kiều la ỷ
Mộng hướng Phù Sai uyển lý du
Cung nga ủng nhập quân vương khởi
Tiền thân hợp thị thái liên nhân
Môn tiền nhất phiến Hoành Đường thủy.

Hoành Đường song tương khứ như phi
Hà xứ hào gia cưỡng tải quy
Thử tế khởi tri phi bạc mệnh
Thử thì chỉ hữu lệ triêm y.

Huân thiên ý khí liên cung dịch
Minh mâu hạo xỉ vô nhân tích
Đoạt quy vĩnh hạng bế lương gia
Giáo tựu tân thanh khuynh tọa khách.

Tọa khách phi trường hồng nhật mộ
Nhất khúc ai huyền hướng thùy tố
Bạch tích thông hầu tối thiếu niên
Giản thủ hoa chi lũ hồi cố
Tảo huề kiều điểu xuất phàn lung
Đãi đắc Ngân Hà kỷ thì độ
Hận sát quân thư để tử thôi
Khổ lưu hậu ước tương nhân ngộ.

Tương ước ân thâm tương kiến nan
Nhất triêu nghĩ tặc mãn Trường An
Khả liên tư phụ lâu đầu liễu
Nhận tác thiên biên phấn nhứ khan.
Biến sách Lục Châu vi nội đệ
Cưỡng hô Giáng Thụ xuất điêu lan
Nhược phi tráng sĩ toàn sư thắng
Tranh đắc nga my thất mã hoàn.

Nga my mã thượng truyền hô tiến
Vân hoàn bất chỉnh kinh hồn định
Lạp cự nghênh lai tại chiến trường
Đề trang mãn diện tàn hồng ấn
Chuyên chinh tiêu cổ hướng Tần Xuyên
Kim Ngưu đạo thượng xa thiên thặng
Tà Cốc vân thâm khởi họa lâu
Tản Quan nguyệt lạc khai trang kính.

Truyền lai tiêu tức mãn giang hương
Ô cữu hồng kinh thập độ sương
Giáo khúc kỹ sư liên thượng tại
Cán sa nữ bạn ức đồng hành
Cựu sào cộng thị hàm nê yến
Phi thướng chi đầu biến phượng hoàng
Trường hướng tôn tiền bi lão đại
Hữu nhân phu tế thiện hầu vương.

Đương thì chỉ thụ thanh danh lụy
Quý thích danh hào cạnh diên trí
Nhất hộc châu liên vạn hộc sầu
Quan sơn phiêu bạc yêu chi tế
Thác oán cuồng phong dương lạc hoa
Vô biên xuân sắc lai thiên địa.

Thường văn khuynh quốc dữ khuynh thành
Phiên sử Chu lang thụ trọng danh
Thê tử khởi ưng quan đại kế
Anh hùng vô nại thị đa tình
Toàn gia bạch cốt thành khôi thổ
Nhất đại hồng trang chiếu hãn thanh.

Quân bất kiến:
Quán Oa sơ khởi uyên ương túc
Việt nữ như hoa khan bất túc
Hương kính trần sinh điểu tự đề
Tiệp lang nhân khứ đài không lục.
Hoán vũ di cung vạn lý sầu
Châu ca thúy vũ cổ Lương Châu
Vị quân biệt xướng Ngô cung khúc
Hán Thủy đông nam nhật dạ lưu.

Ngô Vĩ Nghiệp

I am more an antique Roman than a Dane

Hello all, you can call me Tryst.